
60 thấu địa long: cách xem lai long nhập mạch trên la kinh
La kinh & công cụ · 2026-10-12 · Thầy Vũ Giới · 1 lượt xem

Thấu địa long là phép của phái Tam hợp dùng để xét long mạch đi vào huyệt, tức lai long nhập mạch. Hệ thống gồm 60 long, ứng với 60 cặp can chi của Lục Thập Hoa Giáp. Nhờ vòng long này, người làm phong thuỷ phân biệt được đoạn khí tốt và đoạn khí bại khi phân kim.
Bài viết trình bày cách chia 60 long trên 24 sơn và tính chất của năm vòng long. Sau đó là phần giải thích cấu tạo 24 sơn, các điểm không vong và khái niệm xuất quái.

Cách chia 60 thấu địa long trên 24 sơn
Hệ thống này gộp 24 sơn thành 12 phân vị. Mỗi phân vị gồm hai sơn liền nhau, bắt đầu từ Nhâm. Một phân vị rộng 30 độ và được chia làm 5 phần, mỗi phần 6 độ. Như vậy, mỗi phân vị quản 5 long, 12 phân vị quản đủ 60 long.
Mười hai phân vị lần lượt là: Nhâm Tý, Quý Sửu, Cấn Dần, Giáp Mão, Ất Thìn, Tốn Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Khôn Thân, Canh Dậu, Tân Tuất, Càn Hợi.
Lấy phân vị Nhâm Tý làm ví dụ. Năm long thuộc phân vị này là Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý. Phân vị Quý Sửu cũng có năm long: Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu và Quý Sửu.
Các phân vị khác sắp theo cùng quy luật. Thiên can xoay vòng theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Hết một lượt mười can thì quay lại từ đầu.
Năm vòng long và tính chất cát hung
Đi qua đủ 12 phân vị, mỗi lượt tạo thành một vòng 12 long. Có tất cả năm vòng, gọi tên theo long khởi đầu tại phân vị Nhâm Tý.
| Vòng | Phân vị Nhâm Tý | Phân vị Quý Sửu | Phân vị Cấn Dần | … | Phân vị Càn Hợi |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp Tý | Giáp Tý | Ất Sửu | Bính Dần | … | Ất Hợi |
| Bính Tý | Bính Tý | Đinh Sửu | Mậu Dần | … | Đinh Hợi |
| Mậu Tý | Mậu Tý | Kỷ Sửu | Canh Dần | … | Kỷ Hợi |
| Canh Tý | Canh Tý | Tân Sửu | Nhâm Dần | … | Tân Hợi |
| Nhâm Tý | Nhâm Tý | Quý Sửu | Giáp Dần | … | Quý Hợi |
Ví dụ, vòng Giáp Tý đi như sau: Giáp Tý ở Nhâm Tý, Ất Sửu ở Quý Sửu, Bính Dần ở Cấn Dần. Cứ thế cho tới Ất Hợi ở Càn Hợi. Bốn vòng còn lại vận hành tương tự.
Ý nghĩa của từng vòng
Mỗi vòng mang một tính chất khí riêng. Cách lý giải dựa trên quẻ rút ra từ vòng đó, tóm tắt trong bảng sau.
| Vòng | Tính chất | Lý giải theo quẻ | Khi phân kim |
|---|---|---|---|
| Giáp Tý | Cô bại khí | Rút ra quẻ Càn, Khôn: thuần dương, thuần âm ở trên dưới | Tránh |
| Nhâm Tý | Hư bại khí | Rút ra quẻ Càn, Khôn: thuần dương, thuần âm ở trên dưới | Tránh |
| Mậu Tý | Sát diệu không vong tuyệt khí | Rút ra quẻ Khảm, Ly: trên dưới chỉ còn tuyệt giao | Tránh |
| Bính Tý | Vượng khí | Rút ra quẻ Cấn, Tốn, Đoài, Chấn: âm dương giao thoa | Nên chọn |
| Canh Tý | Tướng khí | Rút ra quẻ Cấn, Tốn, Đoài, Chấn: âm dương giao thoa | Nên chọn |
Nguyên tắc chọn long khi phân kim
Khi phân kim, nên chọn long thuộc vòng Vượng (Bính Tý) và vòng Tướng (Canh Tý). Cần tránh vòng Cô (Giáp Tý) và vòng Hư (Nhâm Tý). Theo sách xưa, dù huyệt tốt mà dùng hai vòng này thì lâu ngày dễ dẫn tới tuyệt tự. Vòng Sát diệu không vong (Mậu Tý) cũng phải tránh vì sát khí quá mạnh.
Giống như phép 72 long xuyên sơn, trong 60 thấu địa long thực chất chỉ có 24 long tốt. Đó là các long thuộc hai vòng Bính Tý và Canh Tý. 36 long còn lại đều bị xem là bại tuyệt.
Cấu tạo 24 sơn và vị trí không vong trên la kinh
Địa bàn có 12 địa chi. Tý, Ngọ, Mão, Dậu là bốn ngôi chính. Dần, Thân, Tỵ, Hợi là nơi trường sinh của ngũ hành. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là nơi ngũ hành quy tàng, thường gọi là tứ mộ. Mỗi chi vì thế đều có giá trị riêng.
Tuy nhiên, 12 chi pha trộn âm dương nên khó dùng riêng. Vì vậy, người xưa thêm thiên can vào. Trong mười can, Mậu và Kỷ thuộc trung cung nên không dùng. Còn lại tám can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Ngoài ra còn tám phương của bát quái. Chấn, Đoài, Khảm, Ly trùng với Mão, Dậu, Tý, Ngọ nên đã nằm sẵn trong 12 chi. Chỉ cần thêm bốn duy Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Tổng cộng 12 chi, 8 can và 4 duy hợp thành 24 sơn.
Đại không vong và tiểu không vong
Tám can và bốn duy được dùng để phân chia khí quẻ. Vì thế, điểm chính giữa của mười hai sơn này có khí quẻ rất cứng, khó xuyên qua. Đó là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Chỗ này gọi là quy giáp không vong, hay đại không vong. Dùng vào đó sẽ gặp đại hung.
Lằn ranh giữa các sơn là nơi phân chia âm dương của khí quẻ. Khí tại đây rất hỗn tạp nên gọi là tiểu không vong. Dùng vào đó cũng gặp hung.
Sáu nhóm quẻ của 24 sơn và khái niệm xuất quái
24 sơn được xếp vào sáu nhóm quẻ, mỗi nhóm bốn sơn, như bảng dưới đây.
| Quẻ | Các sơn thuộc quẻ |
|---|---|
| Cấn | Khôn, Nhâm, Ất, Thìn |
| Đoài | Cấn, Bính, Tân, Tuất |
| Khảm | Tý, Mão, Mùi, Tỵ |
| Ly | Ngọ, Dậu, Sửu, Hợi |
| Chấn | Giáp, Quý, Thân, Tốn |
| Tốn | Dần, Đinh, Canh, Càn |
Có thể thấy mỗi nhóm đối xứng với một nhóm khác qua tâm la kinh. Nhóm quẻ Cấn đối với nhóm quẻ Đoài, Khảm đối với Ly, Chấn đối với Tốn.
Long, hướng, sa, thuỷ nếu không nằm trong những quẻ trên thì được gọi là xuất quái.
Cần phân biệt với trường hợp kiêm hướng khi lập tinh bàn. Ví dụ, sơn Quý hướng Đinh kiêm Sửu Mùi chỉ đơn thuần là sự kết hợp về hướng. Đó không phải là sự kết hợp của quẻ xuất quái.
Lời kết
Thấu địa long là công cụ tinh tế để xét lai long nhập mạch và phân kim. Nắm được năm vòng long, cấu tạo 24 sơn và các điểm không vong giúp người học tránh dùng nhầm đoạn khí bại. Kiến thức này nằm rải rác trong sách cổ, nên cần học có hệ thống và có người hướng dẫn.
Bạn có thể tìm hiểu các khoá học phong thuỷ do Thầy Vũ Giới Liên Hoa giảng dạy. Để tra long pháp, phân kim và 72 xuyên sơn nhanh hơn, bạn hãy dùng thử phần mềm Phong Thuỷ Tam Hợp. Bạn cũng có thể nhận bản thiết kế la kinh 36 tầng A1 tại trang quà tặng phong thuỷ.





