
Hồng phạm cửu trù: ý nghĩa chín trù và liên hệ với Lạc Thư
Kiến thức nền tảng · 2026-10-15 · Thầy Vũ Giới · 1 lượt xem

Hồng phạm cửu trù (洪範九疇) là chín phép lớn để trị nước, sửa mình, được chép trong thiên Hồng Phạm của Kinh Thư. Người xưa gắn nó với Lạc Thư, đồ số mà vua Vũ nhận được khi trị thuỷ. Vì vậy, đây là một mắt xích quan trọng khi tìm hiểu Hà Đồ, Lạc Thư và lý số phương Đông.
Hồng phạm cửu trù nghĩa là gì?
Bốn chữ Hán trong tên gọi có nghĩa như sau:
- Hồng (洪): to lớn.
- Phạm (範): khuôn mẫu, phép tắc.
- Cửu (九): chín.
- Trù (疇): loại, hạng mục.
Ghép lại, Hồng phạm là khuôn mẫu lớn của trời đất. Cửu trù là chín hạng mục của khuôn mẫu ấy.

Nguồn gốc gắn với vua Vũ và Lạc Thư
Tương truyền, vua Hạ Vũ (khoảng 2205–2197 TCN) trị thuỷ ở sông Lạc. Khi ấy, một con rùa thần nổi lên, trên lưng có đồ hình các chấm số. Đồ hình đó được gọi là Lạc Thư. Từ Lạc Thư, vua Vũ đặt ra chín trù để cai trị.
Kinh Thư chép: “Thiên nãi tích Vũ Hồng phạm cửu trù, di luân du tự”. Nghĩa là: Trời bèn ban cho vua Vũ phép lớn chín trù, nhờ đó đạo thường của người được sắp đặt có thứ tự.
Trong Kinh Thư, thiên Hồng Phạm là lời Cơ Tử thuật lại chín trù cho Chu Vũ Vương.

Tư tưởng nền của Hồng phạm
Hồng phạm lấy Trời (Thiên, Đế) làm gốc. Chín trù được xem là phép lớn Trời ban, con người noi theo để giữ trật tự.
Đây là một quan niệm rộng lớn, bao trùm tâm lý, sinh lý, xã hội, chính trị và vũ trụ vạn vật. Nó vừa là vũ trụ quan, vừa là nhân sinh quan, đúc kết từ quan sát lâu dài của người xưa.
Chín trù trong thiên Hồng Phạm
Thiên Hồng Phạm mở đầu bằng việc kể tên chín trù:

初一曰五行,次二曰敬用五事,次三曰農用八政,次四曰協用五紀,次五曰建用皇極,次六曰乂用三德,次七曰明用稽疑,次八曰念用庶徵,次九曰嚮用五福,威用六極。
Có thể hiểu lần lượt như sau:
- Ngũ hành: Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim, Thổ.
- Kính dùng Ngũ sự: Mạo, Ngôn, Thị, Thính, Tư. Tức là dáng vẻ, lời nói, cách nhìn, cách nghe và suy nghĩ.
- Chăm dùng Bát chính: Thực, Hoá, Tự, Tư không, Tư đồ, Tư khấu, Tân, Sư. Tức là lương thực, của cải, cúng tế, việc đất đai xây dựng, giáo hoá, hình pháp, lễ tiếp khách và việc quân.
- Hiệp dùng Ngũ kỷ: Tuế, Nguyệt, Nhật, Tinh thần, Lịch số. Tức là năm, tháng, ngày, sao trời và phép làm lịch.
- Dựng dùng Hoàng cực: bậc trị vì lập chuẩn mực làm thước đo cho dân noi theo. Năm phúc được gom lại để ban khắp cho dân. Dân theo chuẩn mực ấy và cùng giữ gìn nó.
- Trị dùng Tam đức: Chính trực, Cương khắc, Nhu khắc. Tức là ngay thẳng, cứng rắn và mềm mỏng.
- Sáng dùng Kê nghi: xét việc còn ngờ bằng phép bói. Bốc là bói bằng mai rùa, Phệ là bói bằng cỏ thi.
- Nghĩ dùng Thứ trưng: mưa, nắng, ấm, lạnh, gió đến đúng thời, cây cối tốt tươi.
- Hướng dùng Ngũ phúc, răn dùng Lục cực.
Ngũ phúc gồm: Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo đức, Khảo chung mệnh. Nghĩa là sống lâu, giàu có, mạnh khoẻ bình yên, ưa chuộng đạo đức và trọn tuổi trời.
Lục cực gồm: Hung đoản chiết, Tật, Ưu, Bần, Ác, Nhược. Nghĩa là chết yểu, tật bệnh, lo buồn, nghèo khó, hung ác và yếu đuối.
Đồ biểu chín trù trên cửu cung Lạc Thư
Chín trù được đặt vào chín cung theo đúng số của Lạc Thư. Số 5 ở giữa, các hàng ngang, dọc, chéo đều cộng thành 15.
| 4 – Ngũ kỷ: Lịch số | 9 – Ngũ phúc, Lục cực: Thưởng phạt | 2 – Ngũ sự: Biểu hiện của con người |
| 3 – Bát chính: Tổ chức quốc gia | 5 – Hoàng cực: Trung tâm, chuẩn mực | 7 – Kê nghi: Chiêm nghiệm |
| 8 – Thứ trưng: Thời tiết | 1 – Ngũ hành: Hiện tượng ngoại giới | 6 – Tam đức: Xử thế, tiếp vật |
Cách sắp xếp này cho thấy Hoàng cực là trục giữa. Tám trù còn lại xoay quanh, nương vào trung tâm để vận hành.
Học tiếp về Hà Đồ, Lạc Thư và lý số
Nắm được chín trù giúp bạn thấy rõ gốc rễ của Lạc Thư và cửu cung. Đây cũng là nền của nhiều môn lý số như Huyền không phi tinh.
Bạn có thể tham khảo các khoá học Dịch lý và Nguyên lý gốc của Phong Thuỷ Liên Hoa. Bạn cũng có thể nhận quà tặng phong thuỷ miễn phí. Muốn thấy cửu cung vận hành, hãy dùng thử phần mềm Huyền không phi tinh.





