
Tam nguyên long, sơn hướng và kiêm hướng trong huyền không
Huyền không · 2026-10-17 · Thầy Vũ Giới · 3 lượt xem

Tam nguyên long là kiến thức nền mà ai học huyền không phi tinh cũng phải nắm vững. Nó cho biết mỗi sơn trên la kinh thuộc nguyên nào, mang tính âm hay dương. Từ đó, người học xác định phi tinh đi thuận hay nghịch, hướng nhà có được kiêm hay không.
Bài viết do Phong Thuỷ Liên Hoa biên soạn, đi lần lượt qua ba nội dung. Thứ nhất là cách chia 24 sơn và toạ độ từng sơn. Thứ hai là khái niệm chính hướng, kiêm hướng. Thứ ba là cấu trúc phụ mẫu, thuận tử, nghịch tử và quy tắc kiêm hướng.
Từ tám phương đến 24 sơn trên la kinh
Hậu thiên bát quái của Văn Vương chia không gian thành tám phương đều nhau. Mỗi phương gắn với một số của cửu tinh theo Lạc thư:
- Bắc là số 1, Tây Nam là số 2, Đông là số 3, Đông Nam là số 4.
- Tây Bắc là số 6, Tây là số 7, Đông Bắc là số 8, Nam là số 9.
- Số 5 nằm ở trung cung nên không có phương hướng riêng.
Mỗi phương lại chia làm ba phần nhỏ, tổng cộng thành 24 sơn trên la kinh. Tên của 24 sơn lấy từ ba nhóm ký hiệu:
- 12 địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- 8 thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mậu và Kỷ thuộc thổ, được quy về trung cung cùng Ngũ Hoàng, nên chỉ còn 8 can.
- 4 quẻ góc: Càn, Khôn, Cấn, Tốn.
Bảng 24 sơn theo phương và theo nguyên
Bảng sau xếp 24 sơn vào tám phương, kèm dấu dương (+) hoặc âm (−) của từng sơn.
| Phương (số cửu tinh) | Địa nguyên long | Thiên nguyên long | Nhân nguyên long |
|---|---|---|---|
| Bắc (1) | Nhâm (+) | Tý (−) | Quý (−) |
| Tây Nam (2) | Mùi (−) | Khôn (+) | Thân (+) |
| Đông (3) | Giáp (+) | Mão (−) | Ất (−) |
| Đông Nam (4) | Thìn (−) | Tốn (+) | Tỵ (+) |
| Trung cung (5) | — | — | — |
| Tây Bắc (6) | Tuất (−) | Càn (+) | Hợi (+) |
| Tây (7) | Canh (+) | Dậu (−) | Tân (−) |
| Đông Bắc (8) | Sửu (−) | Cấn (+) | Dần (+) |
| Nam (9) | Bính (+) | Ngọ (−) | Đinh (−) |
Gom theo từng nguyên, ta có bảng phân âm dương gọn hơn để tra nhanh:
| Âm dương | Địa nguyên long | Thiên nguyên long | Nhân nguyên long |
|---|---|---|---|
| Sơn dương (+) | Giáp, Canh, Nhâm, Bính | Càn, Khôn, Cấn, Tốn | Dần, Thân, Tỵ, Hợi |
| Sơn âm (−) | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Tý, Ngọ, Mão, Dậu | Ất, Tân, Đinh, Quý |

Toạ độ và phạm vi của từng sơn
24 sơn được xếp theo chiều kim đồng hồ, từ trái sang phải trong mỗi phương. Ví dụ phương Bắc gồm Nhâm, Tý, Quý. Nhâm chiếm 15 độ bên trái, Tý chiếm 15 độ chính giữa, Quý chiếm 15 độ bên phải. Các phương khác cũng theo thứ tự như vậy.
Mỗi sơn có một độ chính giữa, gọi là toạ độ trung tâm:
| Phương | Sơn và độ trung tâm |
|---|---|
| Bắc | Nhâm 345°, Tý 0° (360°), Quý 15° |
| Đông Bắc | Sửu 30°, Cấn 45°, Dần 60° |
| Đông | Giáp 75°, Mão 90°, Ất 105° |
| Đông Nam | Thìn 120°, Tốn 135°, Tỵ 150° |
| Nam | Bính 165°, Ngọ 180°, Đinh 195° |
| Tây Nam | Mùi 210°, Khôn 225°, Thân 240° |
| Tây | Canh 255°, Dậu 270°, Tân 285° |
| Tây Bắc | Tuất 300°, Càn 315°, Hợi 330° |
Mỗi sơn rộng 15 độ. Muốn biết phạm vi một sơn, bạn lấy độ trung tâm trừ và cộng 7,5 độ. Chẳng hạn sơn Mùi có tâm 210 độ. Trừ 7,5 độ được 202,5 độ, cộng 7,5 độ được 217,5 độ. Như vậy sơn Mùi trải từ 202,5 đến 217,5 độ.
Chính hướng và kiêm hướng
Người mới học thường lúng túng khi gặp hai khái niệm chính hướng và kiêm hướng. Thực ra quy tắc khá đơn giản. Khi đo hướng nhà hay hướng mộ, nếu số đo rơi đúng toạ độ trung tâm của một sơn, đó là chính hướng. Nếu lệch khỏi tâm sơn, đó là kiêm hướng.
Kiêm hướng lại phân ra kiêm bên phải hay bên trái, kiêm nhiều hay kiêm ít. Khi đã kiêm, hướng nhà không còn hoàn toàn thuần khí. Lý do là hướng đã lấn dần sang phạm vi của sơn kề bên.
Cách gọi tên hướng kiêm
Trong thuật ngữ phong thuỷ, người ta ít nói "kiêm phải" hay "kiêm trái". Thay vào đó, người ta gọi kèm tên sơn bị kiêm. Ví dụ một ngôi nhà hướng 215 độ. Số đo này vẫn nằm trong sơn Mùi, nhưng lệch phải 5 độ so với tâm. Sơn bên phải của Mùi là Khôn. Vì thế nhà này được gọi là hướng Mùi kiêm Khôn 5 độ.
Kiêm ít và kiêm nhiều
- Kiêm ít: lệch trong khoảng 3 độ so với tâm sơn. Hướng vẫn giữ được thuần khí.
- Kiêm nhiều: lệch quá 3 độ. Khí không còn thuần, bị pha tạp khí của sơn bên cạnh.
Với trường hợp kiêm nhiều, huyền không dùng phép thế quái, còn gọi là số thế, để lập tinh bàn. Mục đích là tìm cách đưa vượng khí về hướng, chuyển xấu thành tốt khi có thể. Phép thế quái là một chủ đề riêng, sẽ được trình bày ở bài khác.
Cấu trúc tam nguyên long: Địa, Thiên, Nhân
Tam nguyên long gồm Địa nguyên long, Thiên nguyên long và Nhân nguyên long. Mỗi nguyên có 8 sơn, chia đều 4 sơn dương và 4 sơn âm:
- Thiên nguyên long: dương là Càn, Khôn, Cấn, Tốn; âm là Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
- Địa nguyên long: dương là Giáp, Canh, Nhâm, Bính; âm là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
- Nhân nguyên long: dương là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; âm là Ất, Tân, Đinh, Quý.
Biết một sơn thuộc âm hay dương, người học sẽ biết phi tinh đi thuận hay đi nghịch. Đây là bước không thể thiếu khi xoay chuyển cửu tinh theo vòng Lượng Thiên Xích để lập tinh bàn.
Phụ mẫu, thuận tử và nghịch tử
Nhìn kỹ bảng trên, bạn sẽ thấy mỗi phương của bát quái đều có đủ ba nguyên. Theo chiều kim đồng hồ, thứ tự luôn là Địa, Thiên, Nhân. Lấy phương Bắc làm ví dụ:
- Nhâm thuộc Địa nguyên long, nằm bên trái, gọi là nghịch tử.
- Tý thuộc Thiên nguyên long, nằm chính giữa, gọi là quẻ phụ mẫu.
- Quý thuộc Nhân nguyên long, nằm bên phải, gọi là thuận tử.
Phương Nam cũng vậy: Bính là nghịch tử, Ngọ là phụ mẫu, Đinh là thuận tử. Các phương còn lại theo cùng quy luật. Địa nguyên long được gọi là nghịch tử vì nằm bên trái phụ mẫu, ngược chiều xoay chuyển của vạn vật.
Quy tắc kiêm hướng và lỗi xuất quái
Từ cấu trúc phụ mẫu, thuận tử, nghịch tử, sách huyền không rút ra quy tắc kiêm hướng như sau:
- Thiên và Nhân kiêm được với nhau: đây là phụ mẫu với thuận tử, cùng tính âm dương nên khí không loạn.
- Địa nguyên long chỉ nên đứng một mình: nghịch tử không kiêm được phụ mẫu hay thuận tử.
- Địa kiêm Thiên: phạm âm dương sai thác, tức âm dương lẫn lộn.
- Địa kiêm Nhân: phạm xuất quái, vì hướng đã vượt sang phạm vi quẻ khác.
Hai ví dụ đối chiếu
Ví dụ 1: nhà hướng 205 độ. Sơn Mùi bắt đầu từ 202,5 độ nên nhà vẫn thuộc hướng Mùi. Tuy nhiên hướng lệch trái 5 độ, tức là Mùi kiêm Đinh. Mùi thuộc Địa nguyên long, chỉ nên lấy chính hướng 210 độ. Mùi nằm trong quẻ Khôn, còn Đinh nằm trong quẻ Ly. Kiêm như vậy là phạm xuất quái, sách xưa xếp vào cách cục xấu.
Ví dụ 2: nhà hướng 185 độ, tức hướng Ngọ kiêm Đinh 5 độ. Ngọ là phụ mẫu, Đinh là thuận tử nằm bên phải. Phụ mẫu kiêm thuận tử là cách kiêm hợp lệ, nên hướng không bị xem là xấu. Dù vậy, độ lệch 5 độ đã vượt mức 3 độ, nên khi lập tinh bàn cần xét thêm phép thế quái.
Hai ví dụ cho thấy một điều quan trọng. Hai ngôi nhà có thể cùng trạch vận nhưng cho kết quả khác nhau. Một phần lớn sự khác biệt nằm ở chỗ chọn đúng chính hướng, hoặc kiêm hướng có hợp lệ hay không. Nội dung này sẽ được bàn kỹ hơn ở chủ đề lập hướng và kiêm hướng.
Học tiếp huyền không phi tinh
Muốn lập tinh bàn chính xác, bạn cần thuộc bảng tam nguyên long và đo hướng thật cẩn thận. Bạn có thể tra nhanh với phần mềm huyền không phi tinh. Để học bài bản, hãy tham khảo các khoá học phong thuỷ của Thầy Vũ Giới Liên Hoa. Bản thiết kế la kinh 36 tầng trong mục quà tặng phong thuỷ cũng giúp bạn đối chiếu 24 sơn dễ dàng.





