Khí VậnKhí VậnPhong Thuỷ Liên Hoa — Định Khí, An Gia
💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

60 thấu địa long: bảng tra phân kim và luận cát hung từng long

Âm trạch · 2026-10-10 · Thầy Vũ Giới · 1 lượt xem

Thấu địa long là vòng 60 long trên la kinh, dùng để xét khí mạch khi long nhập vào huyệt. Đây là một trong những phần khó của địa lý âm trạch. Sách xưa chép rải rác, câu chữ lại cô đọng. Bài viết này giải nghĩa tên gọi và lập bảng tra vị trí. Sau đó là lời luận cát hung của đủ 60 thấu địa long.

Thấu địa long là gì và vì sao có tên gọi này?

Vòng thấu địa gồm 60 long, còn gọi là Thiên Kỷ. Sáu mươi long được chia đều trên vòng tròn, khởi từ Giáp Tý ở tầng chính châm. Như vậy, mỗi long chiếm 6 độ.

Muốn hiểu tên gọi, nên so sánh với vòng xuyên sơn. Chi Hợi thuộc cung Kiền. Vị trí của Kiền trong Hậu thiên ứng với Cấn trong Tiên thiên. Cấn tượng núi, nên vòng gắn với cung này mang tên xuyên sơn.

Vòng 60 long cũng khởi Giáp Tý tại chính châm. Đứng đầu là Nhâm, thuộc quẻ Khảm. Khảm ở Hậu thiên ứng với Khôn ở Tiên thiên. Khôn tượng đất, vì thế vòng này gọi là thấu địa.

Chữ “thấu” ở đây khác chữ “xuyên”. Thấu nghĩa là thông suốt từ trong ra ngoài. Hình ảnh người xưa dùng là ống thổi tro: hơi đi vào một đầu thì thoát ra trọn vẹn ở đầu kia.

Ý nghĩa của chữ “địa” và chữ “long”

Người xưa không dùng chữ “sơn” mà dùng chữ “địa”. Lý do là đất sinh ra vạn vật. Khí ngũ hành đều phát từ lòng đất có cát khí, còn thổ thì thành hình theo khí.

Những hình thế nổi trên mặt đất đều nhờ khí ngũ hành thấu qua địa trung. Khí mạnh thì đất cao lên. Khí yếu thì đất bằng phẳng. Khí thanh thì đất đẹp, khí trọc thì đất mang dáng hung ác. Hiểu được điều này mới gọi là đắc địa.

Cũng vậy, sách không nói “hổ” mà nói “long”. Long mang khí nhưng không có hình cố định, biến hoá khó lường. Long thấu vào trong huyệt và là gốc của mọi biến đổi. Vì giá trị đó mà vòng 60 long mang tên thấu địa long.

Cách dùng thấu địa long khi xét huyệt

Mục đích của vòng thấu địa là giúp việc táng thừa được sinh khí. Tuy nhiên, việc đầu tiên phải làm là nhận đúng long lai nhập thủ.

Nhập thủ là đoạn sống đất phân thuỷ nằm phía sau huyệt. Người xem cần đặt la kinh, đọc kim và xác định mạch vào huyệt thật chính xác. Lệch một vạch là đã sang long khác, lời luận cũng khác hẳn.

Lời luận bên dưới là tư liệu cổ thư, nên đọc như kiến thức học thuật. Khi áp dụng, phải đặt nó cạnh hình thế long, huyệt, sa, thuỷ ở thực địa.

Bảng tra vị trí 60 thấu địa long

Mỗi nhóm năm long mang cùng một địa chi và trải trên hai sơn của chính châm. Trong mỗi nhóm có hai long nằm chính giữa sơn và một long chia đôi 5 – 5 ở ranh giới hai sơn. Hai long còn lại lệch 7 – 3 ở hai đầu nhóm.

NhómLong 1Long 2Long 3Long 4Long 5
TýGiáp Tý (7 Nhâm, 3 Hợi)Bính Tý (chính Nhâm)Mậu Tý (5 Nhâm, 5 Tý)Canh Tý (chính Tý)Nhâm Tý (7 Tý, 3 Quý)
SửuẤt Sửu (7 Quý, 3 Tý)Đinh Sửu (chính Quý)Kỷ Sửu (5 Quý, 5 Sửu)Tân Sửu (chính Sửu)Quý Sửu (7 Sửu, 3 Cấn)
DầnBính Dần (7 Cấn, 3 Sửu)Mậu Dần (chính Cấn)Canh Dần (5 Cấn, 5 Dần)Nhâm Dần (chính Dần)Giáp Dần (7 Dần, 3 Giáp)
MãoĐinh Mão (7 Giáp, 3 Dần)Kỷ Mão (chính Giáp)Tân Mão (5 Giáp, 5 Mão)Quý Mão (chính Mão)Ất Mão (7 Mão, 3 Ất)
ThìnMậu Thìn (7 Ất, 3 Mão)Canh Thìn (chính Ất)Nhâm Thìn (5 Ất, 5 Thìn)Giáp Thìn (chính Thìn)Bính Thìn (7 Thìn, 3 Tốn)
TịKỷ Tị (7 Tốn, 3 Thìn)Tân Tị (chính Tốn)Quý Tị (5 Tốn, 5 Tị)Ất Tị (chính Tị)Đinh Tị (7 Tị, 3 Bính)
NgọCanh Ngọ (7 Bính, 3 Tị)Nhâm Ngọ (chính Bính)Giáp Ngọ (5 Bính, 5 Ngọ)Bính Ngọ (chính Ngọ)Mậu Ngọ (7 Ngọ, 3 Đinh)
MùiTân Mùi (7 Đinh, 3 Ngọ)Quý Mùi (chính Đinh)Ất Mùi (5 Đinh, 5 Mùi)Đinh Mùi (chính Mùi)Kỷ Mùi (7 Mùi, 3 Khôn)
ThânNhâm Thân (7 Khôn, 3 Mùi)Giáp Thân (chính Khôn)Bính Thân (5 Khôn, 5 Thân)Mậu Thân (chính Thân)Canh Thân (7 Thân, 3 Canh)
DậuQuý Dậu (7 Canh, 3 Thân)Ất Dậu (chính Canh)Đinh Dậu (5 Canh, 5 Dậu)Kỷ Dậu (chính Dậu)Tân Dậu (7 Dậu, 3 Tân)
TuấtGiáp Tuất (7 Tân, 3 Dậu)Bính Tuất (chính Tân)Mậu Tuất (5 Tân, 5 Tuất)Canh Tuất (chính Tuất)Nhâm Tuất (7 Tuất, 3 Kiền)
HợiẤt Hợi (7 Kiền, 3 Tuất)Đinh Hợi (chính Kiền)Kỷ Hợi (5 Kiền, 5 Hợi)Tân Hợi (chính Hợi)Quý Hợi (7 Hợi, 3 Nhâm)

Đối chiếu bảng tra với lời luận bên dưới, bạn sẽ thấy một quy luật rõ. Hai mươi bốn long nằm chính giữa sơn đều được luận là cát. Mười hai long chia đôi 5 – 5 đều bị luận là hung. Nhiều long trong số đó mang tên hoả khanh, hắc phong, cô hư. Các long lệch 7 – 3 thì có long tốt, có long xấu, phải xét riêng.

Luận cát hung 60 thấu địa long theo cổ thư

Phần dưới tóm lược lời luận cho từng long, kèm phương thuỷ cần kỵ và các năm ứng nghiệm. Thứ tự đi theo mười hai nhóm địa chi như bảng tra.

Năm thấu địa long nhóm Tý

  • Giáp Tý (7 phần Nhâm, 3 phần Hợi): cổ thư gọi là tiểu thác. Long này chủ về bệnh tật như hoàng thũng, thần kinh bất ổn, phong, lao, tê liệt, con cháu có tật về lời nói. Gặp nước phương Bính thì trong quan tài đọng bùn nước. Gia đạo dễ tranh chấp, thường ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu.
  • Bính Tý (chính Nhâm): long tốt, gia đình phú quý, việc gì cũng thuận. Chỉ kỵ nước ở phương Mùi và Khôn. Gặp nước này, quanh quan tài đọng nước như trong một chiếc lọ. Ứng vào năm Thân, Tý, Thìn và Tị, Dậu, Sửu.
  • Mậu Tý (5 phần Nhâm, 5 phần Tý): thuộc hoả khanh. Long này dễ sinh người lêu lổng, làm gì cũng thất bại. Quan tài bị rễ cây đâm xuyên, mối kiến phá hại. Nếu thấy nước phương Tốn, trong quan tài có hai đến ba phần bùn nước. Ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất và Thân, Tý, Thìn.
  • Canh Tý (chính Tý): chủ phú quý, phúc lộc thịnh vượng lâu dài. Điều cần tránh là nước phương Tốn, vì khiến quan tài có bùn. Ứng vào năm Thân, Tý, Thìn.
  • Nhâm Tý (7 phần Tý, 3 phần Quý): phạm dương nhận. Cổ thư cho rằng long này dễ sinh người yểu chiết, gặp trộm cướp, tổn hại vợ con, hay mắc tai nạn. Có nước phương Canh, Tân thì quan tài đầy bùn nước. Ứng vào năm Thân, Tý, Thìn.

Năm thấu địa long nhóm Sửu

  • Ất Sửu (7 phần Quý, 3 phần Tý): người trong nhà thịnh vượng, giàu có. Kỵ nước phương Ngọ, Đinh vì làm quan tài đầy bùn nước. Cát hay hung đều ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu.
  • Đinh Sửu (chính Quý): sinh người thông minh, lanh lợi, phú quý bền lâu, nhà cửa vui vẻ. Nếu có nước phương Mùi, trong quan tài đọng nước như ao, không tốt. Cát hung ứng vào năm Thân, Tý, Thìn.
  • Kỷ Sửu (5 phần Quý, 5 phần Sửu): thuộc hắc phong. Sách xưa luận con gái dễ yểu, con trai hay đau ốm. Việc gì cũng trắc trở, tinh thần bất ổn, thất bại nặng nề. Nước phương Hợi khiến huyệt có nước và sâu bọ, vì nước sinh từ hoả khanh. Ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất.
  • Tân Sửu (chính Sửu): sau 30 năm mới phát mạnh, đinh tài đều thịnh, việc gì cũng tốt. Long này sinh người hiền lành, hiếu thảo, có điểm khác người. Nếu thấy nước phương Dần, trong quan tài có bùn nước, là điềm xấu.
  • Quý Sửu (7 phần Sửu, 3 phần Cấn): mang tính cô hư. Sau khi táng dễ có nhiều chuyện không may, việc không như ý. Gia đình lục đục, khẩu thiệt xảy ra vào năm Hợi, Mão, Mùi. Có nước phương Kiền, rễ cây xuyên vào quan tài, cũng không tốt.

Năm thấu địa long nhóm Dần

  • Bính Dần (7 phần Cấn, 3 phần Sửu): huyệt ở mức bình thường, có phúc nhưng không bền. Việc tốt ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất. Nước phương Hợi sẽ làm bùn hư hại quan tài.
  • Mậu Dần (chính Cấn): phú quý, vinh hoa, thịnh vượng lâu dài. Thành công ứng vào năm Thân, Tý, Thìn. Chỉ lo nước phương Mão xung vào quan tài thì thành hung.
  • Canh Dần (5 phần Cấn, 5 phần Dần): mang đủ cô hư, hoả khanh, hắc phong, không vong. Sau khi táng 3, 6 hoặc 9 năm, bệnh tật phát sinh, gia tộc suy, nhiều phiền muộn. Nếu nước phương Thân xung vào, trong huyệt có bùn.
  • Nhâm Dần (chính Dần): phú quý, phúc trạch dồi dào, nhiều ruộng vườn. Ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu. Nước phương Ngọ xung thì bùn vào quan tài, gây hư hại.
  • Giáp Dần (7 phần Dần, 3 phần Giáp): bình an, đời người phát phúc. Tuy vậy, đời sau có thể mắc bệnh về mắt. Nếu nước phương Khôn xung vào, quan tài bị mối kiến đục khoét, là dấu hiệu xấu.

Năm thấu địa long nhóm Mão

  • Đinh Mão (7 phần Giáp, 3 phần Dần): thường sinh người ham rượu, phóng túng, lười nhác, rõ nhất vào năm Dần, Ngọ, Tuất. Nước phương Hợi xung thì huyệt ngập bùn, là điềm xấu.
  • Kỷ Mão (chính Giáp): đinh tài cùng phát, ăn mặc sang trọng. Nhưng nếu có nước phương Tốn xung vào, chuột bọ làm hại hài cốt. Con cháu khi ấy gặp nhiều chuyện buồn.
  • Tân Mão (5 phần Giáp, 5 phần Mão): chủ trộm cướp. Ngành thứ ba gặp khó trước, sau lan sang các ngành khác, kéo theo kiện tụng. Có nước phương Canh, Thân thì quan tài đầy bùn. Không cải táng kịp thời thì khó tránh vận xấu.
  • Quý Mão (chính Mão): phú quý song toàn, sinh người thông minh, khoẻ mạnh, việc gì cũng thuận. Nếu nước phương Tị xung vào, rễ cây đâm vào quan tài. Lành dữ đều ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu.
  • Ất Mão (7 phần Mão, 3 phần Ất): thường sinh cảnh cô quả, yểu chiết. Đời sau có thể có người khuyết tật, khó giữ được bình an. Nước phương Tuất xung vào thì trong huyệt đọng nhiều bùn nước.

Năm thấu địa long nhóm Thìn

  • Mậu Thìn (7 phần Ất, 3 phần Mão): sinh người thọ, giàu sang, có danh giá. Nếu nước phương Thân, Dậu xung vào, quan tài có kiến bọ. Ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu.
  • Canh Thìn (chính Ất): đời sống an nhàn, phúc lộc lâu bền, bảy đời giàu có. Long này sinh người tuấn tú, anh hùng, hơn người, ứng vào năm Hợi, Mão, Mùi. Chỉ ngại nước phương Đinh xung vào, dễ gặp hoạ về lửa.
  • Nhâm Thìn (5 phần Ất, 5 phần Thìn): chủ bại tuyệt, tật ở chân, khẩu thiệt, kiện tụng. Người trong họ dễ ly hương, đi tu hoặc tách tông. Có nước phương Tuất xung thì quan tài có bùn, bọ, kiến.
  • Giáp Thìn (chính Thìn): phát đạt, thịnh vượng trong vòng 75 năm. Nếu có nước phương Tý hoặc Quý, trong huyệt sẽ ngập bùn.
  • Bính Thìn (7 phần Thìn, 3 phần Tốn): người ngoài lại được hưởng phúc, đời sống no đủ, yên ổn. Nếu rước rể vào nhà, cổ thư cho là rước hoạ, đời sau dễ bại và hiếm con. Điều này ứng vào năm Thân, Tý, Thìn. Nước phương Dần hoặc Thân xung vào thì công danh trắc trở.

Năm thấu địa long nhóm Tị

  • Kỷ Tị (7 phần Tốn, 3 phần Thìn): phú và quý ngang nhau, ứng vào năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu nước phương Kiền xung vào, hài cốt nằm trong bùn.
  • Tân Tị (chính Tốn): con cháu vinh hoa, phú quý, ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu. Chỉ cần tránh nước phương Ngọ, Đinh xung vào.
  • Quý Tị (5 phần Tốn, 5 phần Tị): thuộc hắc phong, việc gì cũng hung. Sách chép sau khi táng 5 đến 7 năm, người và gia súc đều hao tán như gió thổi. Nước phương Sửu xung vào thì chuột làm tổ trong huyệt.
  • Ất Tị (chính Tị): vinh hoa, phú quý, phúc lộc hưng thịnh, ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất. Có nước phương Quý xung thì quan tài đầy bùn.
  • Đinh Tị (7 phần Tị, 3 phần Bính): sau 3 hoặc 7 năm, nhiều chuyện không may xảy ra. Nếu nước phương Mão chảy đến, bùn nước từ ngoài thấm vào quan tài.

Năm thấu địa long nhóm Ngọ

  • Canh Ngọ (7 phần Bính, 3 phần Tị): phát tài lộc, hạnh phúc tăng tiến lâu dài. Ứng vào năm Thân, Tý, Thìn và Dần, Ngọ, Tuất. Cần tránh nước phương Giáp, Dần để khỏi tổn thất.
  • Nhâm Ngọ (chính Bính): sinh người anh hùng, phú quý trọn vẹn qua ba đời. Cháu chắt vẫn thịnh vượng, được hưởng ân sủng như người được sắc phong. Chỉ kỵ nước phương Thân.
  • Giáp Ngọ (5 phần Bính, 5 phần Ngọ): thuộc hoả khanh. Vào năm Tị, Dậu, Sửu, gia đình dễ suy bại. Có nước phương Đinh, Ngọ xung thì đáy quan tài nát như bùn.
  • Bính Ngọ (chính Ngọ): gia đạo ổn định, con cái thông minh, mưu tính đều thuận. Điều tốt ứng vào năm Thân, Tý, Thìn và Tị, Dậu, Sửu. Nếu nước phương Sửu, Cấn xung, bùn nước tràn vào quan tài.
  • Mậu Ngọ (7 phần Ngọ, 3 phần Đinh): công việc có thành tựu nhưng dễ vướng rắc rối trong giao tiếp. Người thường hay gặp chuyện bất ngờ hằng năm. Nếu nước phương Quý, Tý xung, ảnh hưởng ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất.

Năm thấu địa long nhóm Mùi

  • Tân Mùi (7 phần Đinh, 3 phần Ngọ): sinh người tài giỏi, cơ nghiệp thịnh như sấm động, tiền bạc dồi dào. Nước phương Ngọ xung vào thì rễ cây xuyên quan tài, không tốt.
  • Quý Mùi (chính Đinh): con cháu giàu có, sống thọ. Nhưng nếu nước phương Canh xung vào, mộ phần chịu tổn hại, ứng vào năm Hợi, Mão, Mùi.
  • Ất Mùi (5 phần Đinh, 5 phần Mùi): gặp nhiều khó khăn, đau khổ lớn. Nước phương Tị xung thì xương cốt hoá thành bùn đất, ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu.
  • Đinh Mùi (chính Mùi): phú quý bền vững, điều tốt ứng vào năm Thân, Tý, Thìn. Điều xấu, nếu có, ứng vào năm Dần, Ngọ, Tuất. Nước phương Sửu, Cấn xung thì quan tài đầy nước bùn.
  • Kỷ Mùi (7 phần Mùi, 3 phần Khôn): chủ tai hoạ nặng. Năm Dần, Ngọ, Tuất dễ phát bệnh hiểm. Nước phương Hợi, Nhâm xung thì con cháu gặp chuyện bất ngờ.

Năm thấu địa long nhóm Thân

  • Nhâm Thân (7 phần Khôn, 3 phần Mùi): hao tài, bệnh kéo dài, nhiều nỗi khổ. Điều này ứng vào năm Tị, Dậu, Sửu, việc chữa trị khó khăn. Nước phương Ngọ xung thì quan tài đầy nước.
  • Giáp Thân (chính Khôn): sinh người thông minh, dung mạo đẹp, giàu có, an nhàn. Năm Thân, Tý, Thìn là thời vui nhất. Nếu nước phương Kiền xung, quan tài hư hỏng, thành hoạ.
  • Bính Thân (5 phần Khôn, 5 phần Thân): khó khăn, bần cùng. Gặp nước phương Tý, Quý xung thì chỗ ấy có bùn nước.
  • Mậu Thân (chính Thân): sinh người thông minh, sống thọ, phú quý. Nếu nước phương Giáp xông vào, quan tài đầy bùn nước, rất xấu.
  • Canh Thân (7 phần Thân, 3 phần Canh): nhiều điều không may, tai nạn nối tiếp. Nếu nước phương Kiền xung, tai nạn càng nặng.

Năm thấu địa long nhóm Dậu

  • Quý Dậu (7 phần Canh, 3 phần Thân): phú quý, thọ, viên mãn. Nếu nước phương Đinh xung, huyệt thành ao nước, hài cốt hư hỏng.
  • Ất Dậu (chính Canh): sinh người rất thông minh và giàu có. Nước phương Thìn xung vào thì quan tài nằm trong bùn nước.
  • Đinh Dậu (5 phần Canh, 5 phần Dậu): khó khăn, việc không như ý, có thể tuyệt tự. Nước phương Quý xung thì quan tài luôn đầy bùn nước.
  • Kỷ Dậu (chính Dậu): phát cả văn lẫn võ, gần với tước vị cao, đời đời giàu sang. Điều tốt ứng vào năm Thân, Tý, Thìn. Nếu nước phương Mão xung, bùn lấp kín áo quan, không thể phát.
  • Tân Dậu (7 phần Dậu, 3 phần Tân): giàu sang bền vững, người hưng thịnh, việc gì cũng thuận. Điều tốt ứng vào năm Hợi, Mão, Mùi. Nước phương Kiền xung vào quan tài thì sinh chuyện buồn.

Năm thấu địa long nhóm Tuất

  • Giáp Tuất (7 phần Tân, 3 phần Dậu): đời nhiều thăng trầm, không hưởng trọn phú quý. Đời sau có người theo đường tu hành. Năm Dần, Ngọ, Tuất dễ cô đơn, lo âu. Nước phương Nhâm xung vào thì sinh nhiều chuyện lạ.
  • Bính Tuất (chính Tân): đinh thịnh, người thành đạt, vui vẻ, thi cử đỗ sớm vào năm Thân, Tý, Thìn. Nếu nước phương Giáp, Mão xung, rễ cây xuyên vào quan tài.
  • Mậu Tuất (5 phần Tân, 5 phần Tuất): phạm cô hư, hoả khanh. Cổ thư luận nhiều bệnh tật, yểu chiết, người đi tu, tổn vợ con. Năm Ngọ, Mùi báo trước những tai hoạ lạ. Nước phương Thân xung thì quan tài hư hỏng nặng.
  • Canh Tuất (chính Tuất): giàu sang, sung túc, ăn mặc phong lưu, có tin vui vào năm Tị, Dậu, Sửu. Sau 36 năm sinh người thông minh xuất chúng. Nếu nước phương Ngọ, Đinh xung, sẽ gặp hung bại.
  • Nhâm Tuất (7 phần Tuất, 3 phần Kiền): dễ sinh người yểu, thiếu của cải, phải vào chùa tu, tổn hại con cái. Điềm ứng vào năm Thân, Tý, Thìn. Nước phương Thìn, Tuất xung thì quan tài đầy bùn nước.

Năm thấu địa long nhóm Hợi

  • Ất Hợi (7 phần Kiền, 3 phần Tuất): chủ cảnh quả phụ, yểu chiết, bệnh tật, con cái mồ côi. Năm Dần, Ngọ, Tuất nhiều đau buồn. Nước cung Khôn xung vào thì kiến gặm nhấm trong quan tài.
  • Đinh Hợi (chính Kiền): đại phát phú quý, nhận nhiều điều lành vào năm Thân, Tý, Thìn. Cần cẩn trọng với nước phương Tốn, vì khiến quan tài đầy bùn nước, mục nát.
  • Kỷ Hợi (5 phần Kiền, 5 phần Hợi): khó khăn, thất bại. Năm Thân, Tý, Thìn và Dần, Ngọ, Tuất, người nhà dễ phải xa quê, gặp chuyện lạ. Nước phương Canh, Dậu xung thì rễ cây đâm xuyên quan tài.
  • Tân Hợi (chính Hợi): tài lộc đến, cuộc sống bền vững, thịnh vượng. Nếu nước phương Ngọ, Đinh xung khắc, bùn lầy tràn vào làm quan tài mục nát, rất cần tránh.
  • Quý Hợi (7 phần Hợi, 3 phần Nhâm): sự nghiệp thăng tiến, mọi việc thuận, dòng họ hưởng phúc lộc dồi dào. Năm Thân, Tý, Thìn đem nhiều niềm vui. Nếu nước phương Thìn xung, quan tài không được sạch sẽ.

Những điểm cần ghi nhớ khi học thấu địa long

  • Vòng có 60 long, khởi Giáp Tý tại chính châm, mỗi long rộng 6 độ.
  • Long nằm chính giữa sơn được luận cát; long chia đôi 5 – 5 đều bị luận hung.
  • Long lệch 7 – 3 có cát có hung, phải tra từng long.
  • Mỗi long có phương thuỷ kỵ riêng; nước xung từ phương ấy làm huyệt đọng bùn, sinh hại.
  • Trước khi tra bảng, phải nhận đúng long lai nhập thủ bằng la kinh.

Nắm chắc các điểm trên, bạn sẽ đọc lời luận cổ thư có hệ thống hơn. Đó cũng là nền để học sâu hơn về phép phân kim trong âm trạch.

Học tiếp cùng Phong Thuỷ Liên Hoa

Kiến thức phong thuỷ cổ thất lạc nhiều và nằm rải rác trong sách xưa. Muốn học bài bản về la kinh, long mạch và âm trạch, bạn hãy tham khảo các khoá học phong thuỷ. Các khoá do Thầy Vũ Giới Liên Hoa trực tiếp giảng dạy. Bạn cũng có thể nhận miễn phí bản thiết kế la kinh 36 tầng A1 để làm quen với các tầng la kinh. Cần trao đổi thêm, xin liên hệ Zalo / điện thoại 0988 964 636 hoặc trang liên hệ.

Phong Thuỷ Liên Hoa · Thầy Vũ Giới Liên Hoa · Zalo 0988 964 636 — 60 thấu địa long: bảng tra phân kim và luận cát hung từng long.
💬 Bình luận 0

Bình luận Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận về bài viết này.

Bài viết khác

Huyền không · 2026-10-11Địa vận và thiên vận là gì? Bản chất qua lý tham thiên lưỡng địa

Địa vận và thiên vận là hai gốc của vận khí. Thiên vận sinh từ Can Chi, chia ba; địa vận sinh từ huyết mạch đất, chia hai Âm Dương thành sơn vận, thuỷ vận.

Thầy & dịch vụ phong thuỷ · 2026-10-11Thầy phong thuỷ lừa đảo: các chiêu thường gặp và cách phòng tránh

Nhận diện thầy phong thuỷ lừa đảo qua bốn chiêu quen thuộc: hù doạ hạn nặng, miễn phí rồi bán đắt, giả danh trên mạng, đòi chuyển tiền trước. Kèm cách kiểm chứng và xử lý.

Kiến thức nền tảng · 2026-10-11Thanh Nang Kinh: giải nghĩa ba quyển Thượng, Trung, Hạ

Thanh Nang Kinh đứng đầu Kham dư ngũ kinh. Bài viết giải nghĩa gọn từng câu ba quyển Thượng, Trung, Hạ, từ số lý Hà Lạc đến nguyên lý tàng phong đắc thuỷ.

Zalo