
72 xuyên sơn long: cách phân kim long nhập thủ trên la kinh
La kinh & công cụ · 2026-10-11 · Thầy Vũ Giới · 1 lượt xem

Vòng 72 xuyên sơn là một tầng quan trọng trên la kinh, chuyên dùng để xét long mạch đi vào đầu huyệt. Người xưa còn gọi vòng này là Địa Kỷ, hay 72 long phân kim. Khi đứng trước một thế đất, thầy địa lý cần biết mạch từ đâu tới và mang khí gì. Tầng xuyên sơn chính là công cụ trả lời câu hỏi ấy.
Bài viết này hệ thống lại cách sắp xếp vòng 72 long và ý nghĩa ngũ khí theo Dương Công. Tiếp đó là phép nạp giáp hỗn thiên và cách đặt la kinh ngoài thực địa. Nội dung được tổng hợp từ các tài liệu địa lý cổ, trình bày như kiến thức học thuật để bạn đọc tham khảo.
72 xuyên sơn là gì và dùng để làm gì?
Xuyên sơn nghĩa là "khí xuyên qua núi". Tầng này phối hợp Thiên Can với Địa Chi để xác định vị trí mạch khí đi tới. Trong khi đó, phân kim cho biết phương hướng cụ thể mà khí ấy nhập vào huyệt.
Vòng 72 xuyên sơn được đọc trên Địa bàn Chính châm. Ứng dụng chính của nó là tính long nhập thủ, tức đoạn long mạch cuối cùng trước khi kết huyệt. Đây là căn cứ để luận khí mạch vượng hay suy, dùng được hay phải tránh.
Vì sao có đúng 72 long?
La kinh chia vòng tròn thành 24 sơn, mỗi sơn rộng 15 độ. Mỗi sơn lại chia làm ba phần bằng nhau, mỗi phần 5 độ. Như vậy, 24 sơn cho ra 72 vị trí, gọi là 72 long hay 72 mạch phân kim.
Con số 72 còn tương ứng với 72 thời hậu trong năm. Mỗi thời hậu ứng khoảng 5 ngày, cộng lại thành 360 ngày, tạo nên sự tương hợp giữa không gian và thời gian.
Cách sắp xếp vòng 72 xuyên sơn trên la kinh
Việc sắp vòng này khởi từ Giáp Tý, đặt sát chỗ giao nhau giữa sơn Nhâm và sơn Tý trên bàn Chính châm. Từ đó, 60 hoa giáp lần lượt được rải theo chiều thuận quanh vòng tròn.
Điểm cần lưu ý là phân kim chỉ dựa vào 12 Địa Chi làm chính. Tám Thiên Can và Tứ Duy không tự phân kim. Vì vậy, trong 72 ô có 60 ô mang tên can chi, còn 12 ô để trống.
Mười hai ô trống ấy nằm ngay chính giữa các sơn Bát Can và Tứ Duy. Mỗi Địa Chi được 5 vị can chi đi kèm, ví dụ Tý có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý.
Những vị trí âm dương sai lệch
Theo tài liệu cổ, các vị trí sau đây nằm sát vùng không vong sai thố nên bị xem là âm dương sai lệch:
- Nhâm Tý, Giáp Tý, Quý Sửu, Ất Sửu, Giáp Dần, Bính Dần.
- Ất Mão, Đinh Mão, Bính Thìn, Mậu Thìn, Đinh Tị, Kỷ Tị.
- Mậu Ngọ, Canh Ngọ, Kỷ Mùi, Tân Mùi, Canh Thân, Nhâm Thân.
- Tân Dậu, Quý Dậu, Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Quý Hợi, Ất Hợi.
Những phân kim này đều đứng kề ô trống của Can hoặc Duy. Khí tại đó không thuần, nên người dùng la kinh thường tránh.
Ngũ khí Dương Công trong 72 xuyên sơn
Sáu mươi hoa giáp được chia thành năm tuần, mỗi tuần 12 can chi. Dương Công dựa vào năm tuần này để phân định tính chất của từng mạch khí. Có thể tóm lược như sau:
| Tuần | Tính chất | Các can chi | Vị trí trong mỗi Chi |
|---|---|---|---|
| Giáp Tý | Cô Hư, khí lạnh | Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi | Phân kim thứ nhất, liền đầu không vong |
| Bính Tý | Vượng Tướng, khí chính | Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi | Phân kim thứ hai |
| Mậu Tý | Diệu Sát, sai thố không vong, khí suy | Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi | Phân kim thứ ba, chính giữa |
| Canh Tý | Vượng Tướng, khí mạnh | Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi | Phân kim thứ tư |
| Nhâm Tý | Cô Hư, khí thoái | Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi | Phân kim thứ năm |
Ngoài năm tuần trên còn có "tuần chính", tức 12 ô trống. Ô này không mang can chi, chỉ nằm trên chữ Thiên Can hoặc Tứ Duy. Sách gọi đây là Địa Không vong hay Quy Giáp Không vong.
Tuần nào dùng được, tuần nào phải tránh?
Tuần Giáp Tý và tuần Nhâm Tý đều thuộc Cô Hư, nên không dùng. Tuần Mậu Tý là Diệu Sát, thuộc sai thố không vong, lại xung với 12 Địa Chi, nên cũng bỏ.
Tuần chính xung thuộc Quy Giáp Không vong, đối thẳng với Bát Can và Tứ Duy. Khí ở đây cứng và thẳng như mai rùa. Địa lý cổ cho rằng khí không nên quá cương, vì thế vị trí này cũng không được chọn.
Chỉ có tuần Bính Tý và tuần Canh Tý là Vượng Tướng. Long mạch nhập huyệt rơi vào hai tuần này được xem là tốt nhất. Do đó, trong 72 long chỉ có 24 phân kim thuộc hai tuần Bính Tý, Canh Tý là dùng được.
Đọc vòng 72 long trên mặt la kinh
Dưới tám Thiên Can và Tứ Duy không có long tốt nào. Trái lại, mỗi chữ Địa Chi có hai long tốt nằm hai bên, thường in chữ đỏ trên la kinh. Chính giữa mỗi Chi luôn là sai thố không vong.
Các thuật ngữ như Đại Không vong, Quy Giáp Không vong, Âm Dương sai thác hay Cô Hư được mỗi sách dùng một kiểu. Tuy vậy, vị trí của tuần Vượng Tướng thì các sách đều thống nhất.
Ý nghĩa cát hung khi tọa huyệt theo 72 xuyên sơn
Tọa huyệt là hướng đầu mộ. Sách cổ cho rằng tọa huyệt gặp Đại Không vong, Quy Giáp Không vong, Âm Dương sai thác hay Cô Hư là kém cát. Sách xưa ghi rằng gia đạo khó yên ổn, nhân đinh không vượng.
Ngược lại, tọa huyệt gặp tuần Vượng Tướng được cho là cát lợi. Nhân đinh hưng thịnh, tài lộc, phúc lộc đầy đủ và mọi việc thuận hoà.
Lấy ví dụ Dần long nhập mạch vào huyệt. Nếu thu được khí Mậu Dần xuyên sơn thì đó là khí Vượng. Nếu thu được khí Nhâm Dần thì mạch khí thuộc Tướng.
Lời truyền của Dương Quân Tùng
Tôi được Thầy truyền rằng: lên núi xem long hành phải rõ khí vào huyệt, mọi điều đều lấy 72 long làm chủ. Muốn đoán vận hạn đã qua và hoạ phúc về sau, phải căn cứ vào vị trí chủ tinh, không được sai lệch. Long khí vòng Giáp Tý là Cô Hư, đặt huyệt vào đó sẽ thất bại. Long khí vòng Bính Tý là khí Vượng, đặt huyệt vào đó thì phát tài phú quý.
Đoạn trên chỉ nêu hai vòng làm mẫu, các vòng khác suy ra tương tự. Hơn nữa, 72 long còn phối với 64 quẻ Dịch để thành phép Hỗn Thiên nạp giáp. Phép này dùng để định năm phát phúc và xét tuổi mệnh.
Phép nạp giáp hỗn thiên kết hợp 72 xuyên sơn
Lục thập hoa giáp trên tầng phân kim la kinh giống hệt chu kỳ 60 năm. Nhờ sự tuần hoàn của 10 Thiên Can và 12 Địa Chi, ta biết được tốt xấu của từng can chi. Đó chính là ý nghĩa của phân kim, giúp người dùng chọn phân kim phù hợp.
Khi phối Bát quái với 10 Thiên Can, người xưa dùng nguyên lý nạp giáp, gọi là nạp giáp hỗn thiên. Phép này dựa trên sự biến đổi âm dương của mặt trăng, rồi kết hợp với Bát quái và 60 hoa giáp.
Bát quái nạp giáp
- Càn nạp Giáp.
- Khôn nạp Ất.
- Khảm nạp Quý, Thân, Thìn.
- Chấn nạp Canh, Hợi, Mùi.
- Cấn nạp Bính.
- Tốn nạp Tân.
- Ly nạp Nhâm, Dần, Tuất.
- Đoài nạp Đinh, Tị, Sửu.
Ứng dụng nạp giáp khi lập hướng
- Càn long nhập thủ thì lập hướng Giáp.
- Giáp long nhập thủ thì lập hướng Càn.
- Khảm, Quý, Thân, Thìn long nhập thủ thì lập hướng Ly, Nhâm, Dần, Tuất.
- Ly, Nhâm, Dần, Tuất long nhập thủ thì lập hướng Khảm, Quý, Thân, Thìn.
Mười Thiên Can theo âm dương, cô hư, vượng tướng
- Giáp, Nhâm thuộc quẻ Càn, là Cô Dương.
- Ất, Quý thuộc quẻ Khôn, là Cô Âm.
- Mậu, Kỷ thuộc quẻ Khảm, Ly, là Không vong.
- Canh, Tân, Bính, Đinh liên hệ với Chấn, Tốn, Đoài, Cấn, là Vượng Tướng.
Cô Hư và Không vong đều mang tính bất lợi nên tránh dùng. Riêng nhóm Canh, Tân, Bính, Đinh có âm dương phối hợp hài hoà. Nhóm này thuộc Vượng Tướng, rất thuận cho việc ứng dụng.
Cách dùng 72 xuyên sơn khi đo long mạch thực địa
Bước quan trọng đầu tiên là chọn chỗ đặt la kinh. Vị trí tốt nhất là nơi lai long quá hiệp, tức chỗ mạch thắt lại để thúc khí.
- Nếu khu đất không có chỗ thúc khí, hãy đặt la kinh ở đoạn lai long nhấp nhô, hẹp lại.
- Cũng có thể đặt ở nơi nước phân hai bên chảy đi, tức chỗ phân thuỷ.
- Không tìm được hai chỗ trên thì đặt la kinh ngay tại điểm kết huyệt, rồi nhìn ngược lên để xác định lai long.
Trước hết cần biết long mạch đến từ hướng nào, thuộc can chi nào. Sau đó xét ngũ hành nạp âm của long rồi mới bắt đầu luận. Căn cứ là quan hệ sinh khắc giữa long với vong mệnh, với thuỷ và với nạp âm phân kim.
Xác định lai long nhập huyệt
Trước tiên, hãy tìm đỉnh đồi hoặc ngọn núi cao nhất trong vùng. Từ đó lần theo mạch dẫn vào huyệt, đây chính là lai long cần tìm.
Tiếp theo, xem long ấy rơi vào chữ nào trong 24 sơn và gặp long nào trong vòng 72 xuyên sơn. Hai thông tin này là cơ sở để luận giải.
Ví dụ, Bính long lai mạch thì nên chọn khí Bính long xuyên thẳng vào chữ Nhâm Ngọ. Khí ấy phải nhìn thẳng vào chỗ kết huyệt mới đúng. Với Dần long lai mạch, nên thu khí Mậu Dần hoặc Nhâm Dần để được vượng tướng.
Học tiếp về la kinh và hình pháp
Kiến thức địa lý cổ phần nhiều đã thất lạc, nằm rải rác trong nhiều sách. Muốn dùng thành thạo tầng 72 xuyên sơn, bạn cần nắm chắc la kinh và hình thế long mạch. Mời bạn tham khảo các khoá học phong thuỷ của hệ phái Phong Thuỷ Liên Hoa. Các khoá do Thầy Vũ Giới Liên Hoa trực tiếp giảng dạy.
Để tự học tại nhà, mời bạn nhận bản thiết kế la kinh 36 tầng A1 miễn phí. Bạn cũng có thể tra cứu nhanh với phần mềm phong thuỷ Tam hợp. Cần trao đổi thêm, xin liên hệ Zalo / điện thoại 0988 964 636 (Thầy Vũ Giới).





