
Hậu Thiên Bát Quái là gì? Phương vị, ngũ hành và ứng dụng
Kiến thức nền tảng · 2026-10-21 · Thầy Vũ Giới · 16 lượt xem

Hậu Thiên Bát Quái là cách sắp xếp tám quẻ đơn của Kinh Dịch vào tám phương, theo vòng vận hành của bốn mùa. Đây là đồ hình được dùng nhiều nhất trong phong thuỷ nhà ở. Từ chia cung, đọc la kinh đến tính Bát Trạch, Huyền Không đều cần đến nó. Hiểu rõ đồ hình này, bạn sẽ thấy nhiều phép phong thuỷ tưởng rời rạc hoá ra cùng chung một gốc.
Bài viết trình bày khái niệm, nguồn gốc, phương vị, ngũ hành và tượng ý của từng quẻ. Sau đó là phần so sánh với Tiên Thiên Bát Quái và những ứng dụng cụ thể trong phong thuỷ.

Hậu Thiên Bát Quái là gì?
Bát quái là tám quẻ đơn, mỗi quẻ gồm ba hào âm hoặc dương. Tám quẻ ấy là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Cùng tám quẻ nhưng người xưa có hai cách xếp chính: Tiên Thiên và Hậu Thiên.
"Tiên thiên" nghĩa là trước khi có trời đất, nói về trạng thái gốc, tĩnh tại. "Hậu thiên" nghĩa là sau khi trời đất đã thành hình, vạn vật đã vận hành. Vì vậy, đồ hình Hậu Thiên mô tả thế giới đang chuyển động: bốn mùa nối nhau, muôn loài sinh ra, lớn lên, thu về rồi tàng ẩn.
Người học Dịch thường tóm gọn bằng câu "Tiên Thiên vi thể, Hậu Thiên vi dụng". Tiên Thiên là cái thể, cái gốc. Hậu Thiên là cái dụng, cái vận hành trong đời sống. Phong thuỷ dương trạch chủ yếu dùng Hậu Thiên vì nó gắn trực tiếp với phương hướng, thời tiết và con người.
Nguồn gốc của Hậu Thiên Bát Quái
Văn Vương bát quái
Theo truyền thống, Phục Hy vạch ra tám quẻ và cách xếp Tiên Thiên. Đến cuối đời Thương, Chu Văn Vương sắp đặt lại thứ tự và phương vị của tám quẻ. Vì thế, Hậu Thiên Bát Quái còn được gọi là Văn Vương bát quái.
Sử sách chép rằng Văn Vương từng bị giam ở Dũ Lý và đã dùng thời gian ấy để diễn giải Dịch. Đây là truyền thuyết lâu đời, được các nhà nho đời sau tiếp nhận rộng rãi. Người học nên xem đó là mốc truyền thống, không phải ghi chép khảo cổ chính xác.
Đoạn kinh văn trong Thuyết Quái truyện
Phương vị Hậu Thiên được ghi trong Thuyết Quái truyện, một thiên thuộc phần Thập Dực của Kinh Dịch. Đoạn kinh văn nổi tiếng viết:
"Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn; duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn."
Có thể hiểu đại ý như sau. Vạn vật xuất hiện ở Chấn, chỉnh tề ở Tốn, cùng hiển lộ ở Ly. Chúng được nuôi dưỡng ở Khôn, vui vẻ ở Đoài, âm dương giao tranh ở Càn. Đến Khảm, vạn vật mỏi mệt và quy tàng. Đến Cấn, một chu kỳ khép lại và chu kỳ mới bắt đầu.
Thuyết Quái truyện còn nói rõ Cấn là nơi "vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thuỷ". Nghĩa là nơi muôn vật kết thúc, cũng là nơi muôn vật khởi đầu. Đó là lý do phương Đông Bắc được xem là cửa ngõ chuyển giao giữa hai chu kỳ.
Gắn với Lạc Thư cửu cung
Đồ hình Hậu Thiên thường được phối với Lạc Thư, đồ số chín cung tương truyền xuất hiện trên lưng rùa thần. Khẩu quyết Lạc Thư là "đới cửu lý nhất, tả tam hữu thất; nhị tứ vi kiên, lục bát vi túc; ngũ cư trung ương". Đội chín, đạp một, trái ba, phải bảy, hai và bốn là vai, sáu và tám là chân, năm ở giữa.
Khi phối vào, mỗi quẻ mang một con số: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, trung cung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9. Hệ số này là nền móng của phép Huyền Không Phi Tinh và nhiều môn lý khí khác.
Phương vị và ngũ hành của Hậu Thiên Bát Quái
Bảng dưới đây tóm tắt những thông tin cơ bản nhất của tám quẻ theo Hậu Thiên. Đây là bảng mà người học phong thuỷ nên thuộc lòng.
| Quẻ | Tượng | Ngũ hành | Phương vị | Số Lạc Thư | Thành viên | Tiết khí |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Khảm | Nước | Thuỷ | Bắc | 1 | Trung nam | Đông chí |
| Cấn | Núi | Thổ | Đông Bắc | 8 | Thiếu nam | Lập xuân |
| Chấn | Sấm | Mộc | Đông | 3 | Trưởng nam | Xuân phân |
| Tốn | Gió | Mộc | Đông Nam | 4 | Trưởng nữ | Lập hạ |
| Ly | Lửa | Hoả | Nam | 9 | Trung nữ | Hạ chí |
| Khôn | Đất | Thổ | Tây Nam | 2 | Mẹ | Lập thu |
| Đoài | Đầm, hồ | Kim | Tây | 7 | Thiếu nữ | Thu phân |
| Càn | Trời | Kim | Tây Bắc | 6 | Cha | Lập đông |
Đi theo chiều kim đồng hồ từ Chấn, bạn sẽ thấy vòng quẻ trùng với vòng bốn mùa. Mùa xuân thuộc Mộc ở phương Đông. Mùa hạ thuộc Hoả ở phương Nam. Mùa thu thuộc Kim ở phương Tây. Mùa đông thuộc Thuỷ ở phương Bắc.
Hai quẻ Thổ nằm ở hai điểm chuyển giao. Khôn đứng giữa Ly và Đoài, nối Hoả với Kim theo lẽ Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Nếu không có Thổ chen giữa, Hoả sẽ khắc thẳng Kim. Cấn đứng giữa Khảm và Chấn, là nơi mùa đông khép lại để mùa xuân mở ra. Cách sắp đặt ấy cho thấy đồ hình này là một mô hình thời gian và không gian rất chặt chẽ.
Tượng ý của tám quẻ trong Hậu Thiên Bát Quái
Mỗi quẻ có cấu trúc hào, tính chất và tượng riêng. Phần mô tả dưới đây dựa theo Thuyết Quái truyện, có kèm cách hiểu thường dùng trong phong thuỷ.
Càn – Trời, phương Tây Bắc
Càn ☰ gồm ba hào dương, tính chất là "kiện", tức mạnh mẽ, không ngừng. Càn tượng trời, tượng người cha, người lãnh đạo, ứng với cái đầu trên cơ thể, con vật tượng trưng là ngựa. Ở Hậu Thiên, Càn nằm ở Tây Bắc, hành Kim, số 6. Trong nhà, cung Càn thường được liên hệ với vai trò trụ cột của gia chủ.
Khôn – Đất, phương Tây Nam
Khôn ☷ gồm ba hào âm, tính chất là "thuận", tức nhu hoà, bao dung. Khôn tượng đất, tượng người mẹ, ứng với phần bụng, con vật tượng trưng là trâu. Khôn ở Tây Nam, hành Thổ, số 2. Đất nuôi dưỡng muôn loài, nên cung Khôn gắn với sự chăm lo, vun vén cho gia đình.
Chấn – Sấm, phương Đông
Chấn ☳ có một hào dương nằm dưới hai hào âm, tính chất là "động". Chấn tượng sấm, tượng trưởng nam, ứng với bàn chân, con vật tượng trưng là rồng. Chấn ở chính Đông, hành Mộc, số 3. Như tiếng sấm đầu xuân đánh thức muôn vật, Chấn tượng trưng cho sự khởi động và nảy nở.
Tốn – Gió, phương Đông Nam
Tốn ☴ có một hào âm nằm dưới hai hào dương, tính chất là "nhập", tức len lỏi, thấm sâu. Tốn tượng gió, tượng trưởng nữ, ứng với phần đùi, con vật tượng trưng là gà. Tốn ở Đông Nam, hành Mộc, số 4. Gió đi khắp nơi, nên Tốn gợi sự lan toả, giao lưu và mềm mỏng.
Khảm – Nước, phương Bắc
Khảm ☵ có một hào dương kẹp giữa hai hào âm, tính chất là "hãm", tức hiểm trở. Khảm tượng nước, tượng trung nam, ứng với tai, con vật tượng trưng là lợn. Khảm ở chính Bắc, hành Thuỷ, số 1. Nước bên ngoài mềm mà bên trong có sức mạnh, nên Khảm vừa chỉ hiểm nguy vừa chỉ trí tuệ sâu kín.
Ly – Lửa, phương Nam
Ly ☲ có một hào âm kẹp giữa hai hào dương, tính chất là "lệ", tức bám vào, nương tựa. Ly tượng lửa, mặt trời, tượng trung nữ, ứng với mắt, con vật tượng trưng là chim trĩ. Ly ở chính Nam, hành Hoả, số 9. Lửa soi sáng mọi vật, nên Ly gắn với sự sáng sủa, văn minh và danh tiếng.
Cấn – Núi, phương Đông Bắc
Cấn ☶ có một hào dương nằm trên hai hào âm, tính chất là "chỉ", tức dừng lại, vững yên. Cấn tượng núi, tượng thiếu nam, ứng với bàn tay, con vật tượng trưng là chó. Cấn ở Đông Bắc, hành Thổ, số 8. Núi đứng yên mà vững, nên Cấn gợi sự tích luỹ, bền bỉ và biết dừng đúng lúc.
Đoài – Đầm, phương Tây
Đoài ☱ có một hào âm nằm trên hai hào dương, tính chất là "duyệt", tức vui vẻ, hoà nhã. Đoài tượng đầm, hồ, tượng thiếu nữ, ứng với miệng, con vật tượng trưng là dê. Đoài ở chính Tây, hành Kim, số 7. Cần lưu ý: tượng của Đoài là đầm nước, nhưng ngũ hành của Đoài là Kim chứ không phải Thuỷ.
So sánh Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái
Người mới học hay nhầm lẫn hai đồ hình này. Bảng so sánh dưới đây giúp bạn phân biệt rõ ràng.
| Phương | Tiên Thiên | Hậu Thiên |
|---|---|---|
| Nam | Càn | Ly |
| Bắc | Khôn | Khảm |
| Đông | Ly | Chấn |
| Tây | Khảm | Đoài |
| Đông Nam | Đoài | Tốn |
| Đông Bắc | Chấn | Cấn |
| Tây Nam | Tốn | Khôn |
| Tây Bắc | Cấn | Càn |
Tiên Thiên xếp các quẻ thành từng cặp đối nhau: Càn đối Khôn, Ly đối Khảm, Chấn đối Tốn, Cấn đối Đoài. Đó là thế "đối đãi", âm dương cân bằng tuyệt đối. Thứ tự số Tiên Thiên là Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.
Hậu Thiên lại theo thế "lưu hành", tức vận động nối tiếp theo bốn mùa. Số của Hậu Thiên lấy theo Lạc Thư như đã nêu ở trên. Vì vậy, khi đọc tài liệu, bạn cần xem tác giả đang dùng hệ nào. Chẳng hạn, phép lập quẻ Mai Hoa Dịch Số dùng số Tiên Thiên, còn phép chia cung nhà ở dùng phương vị Hậu Thiên.
Ứng dụng Hậu Thiên Bát Quái trong phong thuỷ
Chia tám cung của ngôi nhà
Người xem phong thuỷ đặt la kinh tại tâm nhà để đo hướng. Sau đó, mặt bằng được chia thành tám phương, mỗi phương 45 độ và ứng với một quẻ Hậu Thiên. Mỗi quẻ lại quản ba sơn trong vòng 24 sơn của la kinh.
Vòng 24 sơn gồm tám thiên can, mười hai địa chi và bốn quẻ Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Hai can Mậu, Kỷ không có mặt vì thuộc Thổ ở trung cung. Mỗi sơn rộng 15 độ, ba sơn cộng lại vừa đúng 45 độ của một quẻ. Danh sách dưới đây cho biết mỗi quẻ quản những sơn nào:
- Khảm: Nhâm, Tý, Quý.
- Cấn: Sửu, Cấn, Dần.
- Chấn: Giáp, Mão, Ất.
- Tốn: Thìn, Tốn, Tỵ.
- Ly: Bính, Ngọ, Đinh.
- Khôn: Mùi, Khôn, Thân.
- Đoài: Canh, Dậu, Tân.
- Càn: Tuất, Càn, Hợi.
Phong thuỷ Bát Trạch
Bát Trạch lấy năm sinh và giới tính để tính ra quái mệnh, còn gọi là cung phi. Quái mệnh thuộc một trong tám quẻ Hậu Thiên. Khảm, Ly, Chấn, Tốn hợp thành Đông tứ mệnh. Càn, Khôn, Cấn, Đoài hợp thành Tây tứ mệnh.
Ngôi nhà cũng được gọi tên theo phương toạ, ví dụ nhà toạ Bắc là Khảm trạch. Từ quan hệ giữa quái mệnh và tám phương, Bát Trạch xác định bốn phương tốt và bốn phương xấu. Căn cứ đó dùng để bố trí cửa, bếp, phòng ngủ.
Huyền Không Phi Tinh
Huyền Không dùng Lạc Thư cửu cung làm địa bàn cố định. Chín sao bay qua chín cung theo một lộ trình nhất định: trung cung, Càn, Đoài, Cấn, Ly, Khảm, Khôn, Chấn, Tốn. Lộ trình này chính là thứ tự số Lạc Thư từ 5 đến 4. Nếu không thuộc phương vị Hậu Thiên, người học sẽ không thể an tinh bàn cho đúng.
Bố trí theo thành viên và ngũ hành
Một số cách bố trí phổ thông dựa vào thành viên gia đình và ngũ hành của từng cung. Ví dụ, cung Chấn và Tốn thuộc Mộc nên hợp với cây xanh. Cung Ly thuộc Hoả nên cần sáng sủa. Các cung Thổ như Khôn, Cấn hợp với sự vững chãi, gọn gàng.
Tuy vậy, những gợi ý này chỉ là lớp tham khảo bên ngoài. Theo cách tiếp cận của Phong Thuỷ Liên Hoa, hình thế thực tế của ngôi nhà và khu đất luôn cần xét trước. Sau đó mới dùng lý khí như Bát Trạch, Huyền Không để tinh chỉnh.
Ví dụ đọc một ngôi nhà theo Hậu Thiên Bát Quái
Giả sử ngôi nhà toạ chính Bắc, hướng chính Nam. Theo phương vị Hậu Thiên, phương toạ thuộc Khảm, phương hướng thuộc Ly. Bát Trạch gọi đây là Khảm trạch, thuộc nhóm Đông tứ trạch.
Với Khảm trạch, bốn phương tốt là Đông Nam (Sinh Khí), Đông (Thiên Y), Nam (Diên Niên) và Bắc (Phục Vị). Bốn phương xấu là Tây (Hoạ Hại), Đông Bắc (Ngũ Quỷ), Tây Bắc (Lục Sát) và Tây Nam (Tuyệt Mệnh).
Nhìn vào đồ hình, bạn sẽ thấy bốn phương tốt đều thuộc nhóm Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Bốn phương xấu thuộc nhóm Càn, Khôn, Cấn, Đoài. Đây chính là lý do Bát Trạch chia nhà và người thành hai nhóm Đông tứ, Tây tứ.
Từ đây, người xem sẽ ưu tiên đặt cửa chính, phòng ngủ chủ, hướng bếp vào các phương tốt. Các phương xấu dùng cho kho, nhà vệ sinh hay những không gian ít quan trọng. Dĩ nhiên, đây mới là bước lý khí. Hình thế thực tế của đường đi, nhà bên cạnh, nguồn nước vẫn phải được xét song song.
Hậu Thiên Bát Quái trên la kinh
Hầu hết la kinh phong thuỷ đều có một tầng ghi tám quẻ Hậu Thiên ở gần tâm. Nhiều loại la kinh còn có thêm tầng Tiên Thiên bát quái để người dùng đối chiếu. Từ tám quẻ ấy, la kinh chia tiếp thành vòng 24 sơn, rồi những vòng chi tiết hơn.
Khi đo hướng, người xem đọc độ số, xác định sơn, rồi biết ngay sơn ấy thuộc quẻ nào. Chẳng hạn, nhà hướng Tỵ thuộc quẻ Tốn, phương Đông Nam, hành Mộc. Mọi phép tính sau đó đều xuất phát từ bước xác định này.
Vì vậy, thuộc phương vị Hậu Thiên là kỹ năng đầu tiên của người cầm la kinh. Đọc sai một quẻ, toàn bộ phần luận đoán phía sau đều có thể lệch theo.
Hậu Thiên Bát Quái và quy luật sinh khắc
Vì mỗi quẻ mang một hành, quan hệ giữa các cung cũng tuân theo ngũ hành sinh khắc. Vòng tương sinh là Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Vòng tương khắc là Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim.
Áp dụng vào đời sống, người mệnh Thổ hợp với yếu tố Hoả và Thổ, vì Hoả sinh Thổ. Họ nên hạn chế yếu tố Mộc làm chủ đạo, vì Mộc khắc Thổ. Người mệnh Thuỷ hợp với Kim và Thuỷ, nên dè dặt với Thổ. Đây là những nguyên tắc cơ bản, cần đúng ngay từ đầu để tránh áp dụng ngược.
Trong Bát Trạch, quan hệ sinh khắc giữa quẻ của nhà và quẻ của cửa, bếp cũng được xét đến. Khi hai quẻ cùng nhóm Đông tứ hoặc Tây tứ, chúng phối hợp thuận lợi hơn. Khi khác nhóm, người xem cần cân nhắc cách bố trí để giảm bất lợi.
Hiểu đúng giá trị của Hậu Thiên Bát Quái
Hậu Thiên Bát Quái không phải bùa chú hay vật cầu may. Đó là một mô hình mà người xưa dùng để sắp xếp hiểu biết về thời gian, không gian và con người. Vòng quẻ cho thấy mọi sự đều có lúc sinh, lúc trưởng, lúc thu, lúc tàng.
Hiểu được nhịp vận hành ấy, con người biết hành động thuận thời. Mùa xuân thì gieo trồng, mùa thu thì thu hoạch, mùa đông thì nghỉ ngơi tích luỹ. Bài học này áp dụng được cho cả việc làm ăn lẫn việc tu dưỡng bản thân.
Vòng quẻ cũng nhắc rằng không có gì đứng yên mãi. Cái thịnh rồi sẽ đến lúc thu lại, cái suy rồi sẽ đến lúc khởi lên. Người hiểu Dịch không quá vui khi thuận, không quá buồn khi nghịch. Họ chuẩn bị cho giai đoạn kế tiếp, như người nông dân chuẩn bị hạt giống từ cuối đông.
Tư tưởng hài hoà giữa con người và trời đất cũng hiện rõ trong đồ hình này. Con người được đặt vào cùng một vòng với mùa màng, phương hướng và gia đình. Mỗi thành viên trong nhà ứng với một quẻ, cho thấy gia đình được nhìn như một tiểu vũ trụ cần cân bằng.
Trong phong thuỷ, đồ hình Hậu Thiên là tấm bản đồ để đọc ngôi nhà. Bản đồ quan trọng, nhưng địa hình thật mới là thứ quyết định. Người học giỏi là người dùng bản đồ để nhìn rõ thực địa, chứ không thay thực địa bằng bản đồ.
Câu hỏi thường gặp về Hậu Thiên Bát Quái
Vì sao phong thuỷ nhà ở dùng Hậu Thiên mà không dùng Tiên Thiên?
Nhà ở là nơi con người sinh hoạt hằng ngày, chịu tác động của nắng, gió, mùa màng. Hậu Thiên mô tả chính thế giới vận hành ấy, nên phù hợp để chia cung, định hướng. Tiên Thiên vẫn được dùng trong một số phép lý khí và trong việc luận thể, luận gốc.
Gương bát quái treo trước cửa dùng đồ hình nào?
Gương bát quái dùng để hoá giải sát khí theo dân gian thường in đồ hình Tiên Thiên, với quẻ Càn ở trên. Đồ hình Hậu Thiên chủ yếu dùng để chia cung và bố trí bên trong nhà. Dù vậy, treo gương cần được xem xét kỹ, không nên treo tuỳ tiện.
Quái mệnh có phải là số phận của mỗi người?
Không hẳn. Quái mệnh trong Bát Trạch là một quẻ tính từ năm sinh và giới tính, dùng để phối với phương hướng nhà ở. Nó giúp chọn hướng, bố trí phòng cho hợp, chứ không quyết định trọn vẹn cuộc đời một người. Sức khoẻ, sự nghiệp còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác, trước hết là cách sống của chính mình.
Người mới học nên bắt đầu từ đâu?
Bạn nên thuộc bảng phương vị, ngũ hành và số Lạc Thư của tám quẻ trước. Tiếp theo, hãy tập đặt la kinh, chia tám cung trên mặt bằng nhà mình. Khi đã quen, bạn chuyển sang Bát Trạch, rồi Huyền Không Phi Tinh.
Học tiếp và thực hành cùng Phong Thuỷ Liên Hoa
Hậu Thiên Bát Quái là nền móng chung của rất nhiều môn phong thuỷ. Nắm vững đồ hình này, bạn sẽ học các phép sau nhanh và chắc hơn. Để bắt đầu, bạn có thể nhận miễn phí giáo trình Bát Trạch và bản thiết kế la kinh. Chúng có tại trang quà tặng phong thuỷ. Khi cần tra nhanh cung phi và tám hướng nhà, hãy dùng thử phần mềm phong thuỷ Bát Trạch. Muốn học có hệ thống, mời bạn xem các khoá học phong thuỷ của Thầy Vũ Giới Liên Hoa.





