Khí VậnKhí VậnPhong Thuỷ Liên Hoa — Định Khí, An Gia
💻 Phần mềm phong thuỷ · Phong Thuỷ Liên HoaPhần mềm phong thuỷ Vũ Giới Hợp LuậnLa kinh số · Bảng luận · Tính năng · Kho kiến thức — dùng ngay trên trình duyệt💻 Mở phần mềm Hợp Luận

La kinh 18 tầng: tên gọi và ý nghĩa từng tầng cho người mới

La kinh & công cụ · 2026-10-22 · Thầy Vũ Giới · 20 lượt xem

La kinh 18 tầng là loại la kinh khá phổ biến hiện nay, cân bằng giữa độ gọn và lượng thông tin. Mặt la kinh không quá dày chữ, cầm tay dễ dàng, nhưng đã đủ các vòng tra cứu cơ bản. Bài viết giới thiệu tên và ý nghĩa từng tầng, theo thứ tự từ tâm ra ngoài. Cuối bài có phần so sánh với la kinh 22 tầng và 30 tầng để bạn tham khảo.

La kinh 18 tầng với các vòng xếp từ thiên trì ra mép ngoài
Các tầng của la kinh được đánh số từ tâm ra ngoài.

Tổng quan các tầng của la kinh 18 tầng

Trên la kinh, tầng thứ nhất nằm ở chính giữa. Số tầng tăng dần khi đi ra ngoài, tầng thứ 18 nằm sát mép gỗ. Bảng dưới đây là cách sắp xếp thường gặp.

TầngTên tầngCông dụng chính
1Thiên tâm thập đạo, Thiên trìCăn kim, ngắm toạ hướng
2Tiên thiên bát quáiTham chiếu tượng quẻ gốc
3Phương hướng, Hậu thiên bát quái, Lạc thưĐịnh tám cung và số Lạc thư
4Tam nguyên long và thế quáiÂm dương 24 sơn, kiêm hướng Huyền Không
5Chính châm Địa bàn (24 sơn)Đọc toạ hướng, cách long
6Nạp giápTra quẻ nạp của từng sơn
7Kiếp sátTra phương kiếp sát theo sơn
8Hoàng tuyềnTra phương phạm Hoàng tuyền
9Trung châm Nhân bànTiêu sa (Tam hợp)
10Phùng châm Thiên bànNạp thuỷ (Tam hợp)
1160 thấu địa longXét long mạch nhập huyệt
12Đại du niên bát biếnAn du niên Bát Trạch
1372 xuyên sơn longXét long nhập thủ
14120 phân kim chính châmChia nhỏ từng sơn khi lập hướng
15Nhị thập bát túTra 28 chòm sao
16Vòng độ số 360°Ghi độ hướng chính xác
17Trường sinh âm dương cụcĐịnh cục trong Tam hợp
1824 sao Phúc đứcTra sao cát hung theo Bát Trạch

Không phải la kinh 18 tầng nào cũng sắp đúng như trên. Có mẫu đổi chỗ vài tầng, có mẫu thêm hoặc bớt một hai vòng. Khi học, bạn nên đối chiếu với bảng chú giải đi kèm chiếc la kinh của mình.

Nhóm tầng nền: từ thiên trì đến 24 sơn

Năm tầng đầu là phần lõi mà người dùng la kinh nào cũng phải thuộc. Chúng giúp bạn căn kim, định cung và đọc toạ hướng.

Tầng 1: Thiên tâm thập đạo và Thiên trì

Thiên tâm thập đạo là hai sợi chỉ đỏ căng vuông góc trên mặt la kinh. Khi đo, một sợi trùng với trục toạ hướng của nhà, sợi kia nằm ngang theo vách sau. Giao điểm hai sợi chỉ nằm đúng tâm la kinh.

Thiên trì là ô tròn ở tâm, chứa kim nam châm. Đáy thiên trì có vạch đỏ gọi là hải để tuyến. Khi đo, bạn xoay mặt la kinh đến khi kim nằm trùng vạch này. La kinh truyền thống quy ước đầu kim có đánh dấu chỉ về phương Nam, nên còn gọi là kim chỉ nam. Một số mẫu lại đánh dấu đầu chỉ Bắc, bạn cần xem kỹ trước khi dùng.

Tầng 2: Tiên thiên bát quái

Tầng này xếp tám quẻ theo đồ hình Tiên thiên của Phục Hy. Càn ở chính Nam, Khôn ở chính Bắc, Ly ở Đông, Khảm ở Tây. Đoài ở Đông Nam, Chấn ở Đông Bắc, Tốn ở Tây Nam, Cấn ở Tây Bắc. Một số la kinh in Hậu thiên bát quái ở tầng này thay cho Tiên thiên.

Tầng 3: Phương hướng, Hậu thiên bát quái và Lạc thư

Mỗi ô ở tầng này ghi ba thông tin, ví dụ "Bắc – Khảm – 1" hay "Đông Bắc – Cấn – 8". Chữ đầu là phương hướng. Chữ thứ hai là quẻ theo Hậu thiên bát quái của Văn Vương. Con số cuối là số của cung ấy trên Lạc thư.

PhươngQuẻ Hậu thiênSố Lạc thư
BắcKhảm1 (Nhất Bạch)
Tây NamKhôn2 (Nhị Hắc)
ĐôngChấn3 (Tam Bích)
Đông NamTốn4 (Tứ Lục)
Tây BắcCàn6 (Lục Bạch)
TâyĐoài7 (Thất Xích)
Đông BắcCấn8 (Bát Bạch)
NamLy9 (Cửu Tử)

Số 5 (Ngũ Hoàng) thuộc trung cung nên không có ô riêng trên vòng này. Tầng 2 và tầng 3 đều là bát quái, nhưng hai cách sắp khác nhau, bạn đừng nhầm lẫn.

Tầng 4: Tam nguyên long và thế quái

Mỗi cung 45 độ ở tầng 3 được chia đều làm ba, mỗi phần 15 độ, gọi là một sơn. Tám cung cho ra 24 sơn. Tầng 4 ghi cho từng sơn ba thông tin: thuộc nguyên long nào, âm hay dương, và số thế quái.

  • Thiên nguyên long: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Càn, Khôn, Cấn, Tốn.
  • Địa nguyên long: Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Nhân nguyên long: Ất, Tân, Đinh, Quý, Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

Trong cùng một cung, Địa nguyên long luôn khác dấu âm dương với Thiên nguyên long và Nhân nguyên long. Hai sơn đối diện nhau qua tâm thì luôn cùng dấu. Âm dương của sơn quyết định sao bay thuận hay nghịch khi lập tinh bàn Huyền Không. Con số thế quái dùng khi nhà kiêm hướng, cần thay sao theo phép thế quái.

Tầng 5: Chính châm Địa bàn, 24 sơn

Đây là tầng quan trọng nhất, ghi tên 24 sơn. Mỗi quẻ Hậu thiên quản ba sơn, đọc theo chiều kim đồng hồ như bảng dưới.

CungPhươngBa sơn
KhảmBắcNhâm, Tý, Quý
CấnĐông BắcSửu, Cấn, Dần
ChấnĐôngGiáp, Mão, Ất
TốnĐông NamThìn, Tốn, Tỵ
LyNamBính, Ngọ, Đinh
KhônTây NamMùi, Khôn, Thân
ĐoàiTâyCanh, Dậu, Tân
CànTây BắcTuất, Càn, Hợi

Trong 24 sơn có 12 địa chi, 8 thiên can (không dùng Mậu, Kỷ) và 4 quẻ duy là Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Trục Nam – Bắc của Địa bàn đi qua chính giữa sơn Tý và sơn Ngọ. Nói cách khác, sơn Tý trải từ 352,5 độ đến 7,5 độ. Nhân bàn ở tầng 9 và Thiên bàn ở tầng 10 đều lệch so với Địa bàn nửa sơn, tức 7,5 độ.

Nhóm tầng tra cứu: nạp giáp, kiếp sát, hoàng tuyền

Tầng 6: Nạp giáp

Tầng này cho biết mỗi sơn được nạp về quẻ nào. Theo phép nạp giáp thường in trên la kinh, Càn nạp Giáp, Khôn nạp Ất, Cấn nạp Bính, Tốn nạp Tân. Ly nạp Nhâm cùng Dần, Ngọ, Tuất. Khảm nạp Quý cùng Thân, Tý, Thìn. Chấn nạp Canh cùng Hợi, Mão, Mùi. Đoài nạp Đinh cùng Tỵ, Dậu, Sửu.

Ví dụ, ứng với sơn Tuất ở tầng 5, tầng nạp giáp ghi chữ Ly. Sách xưa dùng vòng này trong một số phép nạp khí và chọn ngày. Với người mới, tầng này ít khi dùng tới.

Tầng 7: Kiếp sát

Tầng kiếp sát cho biết phương kiếp sát ứng với từng sơn toạ của ngôi nhà. Theo cách luận truyền thống, phương này gặp núi đá lởm chởm, gồ ghề là xấu. Nếu ở đó hình thế bằng phẳng, êm đẹp thì lại không đáng ngại, có khi còn tốt. Tầng này cũng ít được dùng trong thực hành hằng ngày.

Tầng 8: Hoàng tuyền

Tầng này dùng để xác định phương phạm Tứ lộ Hoàng tuyền. Bài khẩu quyết quen thuộc như sau:

Canh Đinh Khôn thượng thị Hoàng tuyền, Ất Bính tu phòng Tốn thuỷ tiên. Giáp Quý hướng trung ưu kiến Cấn, Tân Nhâm thuỷ lộ phạ đương Càn.

Nghĩa là nhà hướng Canh hoặc Đinh thì Hoàng tuyền ở Khôn. Hướng Ất, Bính thì ở Tốn. Hướng Giáp, Quý thì ở Cấn. Hướng Tân, Nhâm thì ở Càn. Đây là những phương cần thận trọng khi bố trí đường đi và đường nước.

Lưu ý, tầng Hoàng tuyền trên la kinh thường ghi theo sơn toạ chứ không theo sơn hướng. Chẳng hạn, nhà hướng Canh thì toạ Giáp. Tra ở sơn Giáp trên tầng này, bạn sẽ thấy chữ Khôn.

Ba bàn trên la kinh: Địa bàn, Nhân bàn, Thiên bàn

La kinh 18 tầng có ba vòng 24 sơn, gọi chung là ba bàn. Ngoài Địa bàn chính châm ở tầng 5, còn có Nhân bàn và Thiên bàn. Người xưa tóm tắt công dụng bằng câu: "Địa bàn cách long, Nhân bàn tiêu sa, Thiên bàn nạp thuỷ".

Tầng 9: Trung châm Nhân bàn

Nhân bàn xoay ngược chiều kim đồng hồ 7,5 độ so với Địa bàn. Vì thế, kim nam châm rơi vào khoảng giữa Tý và Quý, Ngọ và Đinh của Nhân bàn, nên gọi là trung châm. Tương truyền, vòng này do Lại Văn Tuấn, tức Lại Bố Y đời Nam Tống, đặt ra. Ông cũng là tác giả sách Thôi Quan Thiên.

Nhân bàn lấy con người làm trung tâm, cùng trời đất hợp thành tam tài. Trong phái Tam hợp, Nhân bàn dùng để tiêu sa, tức xét núi, gò, nhà cửa xung quanh.

Tầng 10: Phùng châm Thiên bàn

Thiên bàn xoay thuận chiều kim đồng hồ 7,5 độ so với Địa bàn. Kim nam châm rơi vào đường nối giữa Nhâm và Tý, Bính và Ngọ của Thiên bàn, nên gọi là phùng châm. Như vậy Nhân bàn và Thiên bàn lệch nhau đúng 15 độ, tức một sơn.

Tương truyền, Thiên bàn do Dương Quân Tùng đời Đường sáng chế. Trong phái Tam hợp, vòng này dùng để nạp thuỷ, tức xét dòng nước đến và đi.

Các tầng long mạch và phân kim

Nhóm này phục vụ việc xét long mạch, chủ yếu trong âm trạch và phái Tam hợp. Muốn dùng thạo, người học cần nắm Lục thập hoa giáp và ngũ hành nạp âm.

Tầng 11: 60 thấu địa long

"Thấu địa" nghĩa là khí thấm suốt trong lòng đất. Người xưa cho rằng khí ngũ hành vận hành ngầm dưới đất. Khí mạnh thì đất nhô thành đồi núi, khí yếu thì đất chỉ gợn thấp hoặc bằng phẳng. Long mạch là nguồn của mọi biến hoá ấy.

Mắt thường không thấy long mạch dưới đất. Vì vậy, người xem dựa vào hình dáng, dấu vết và phương vị mà long để lại trên mặt đất. Người xưa nói nhiều về long mà ít nói về hổ. Bởi hổ tĩnh, còn long tượng cho khí biến động, sinh hoá muôn vật.

Vòng 60 thấu địa long gộp 24 sơn thành 12 phân vị. Sáu phân vị đầu là Nhâm Tý, Quý Sửu, Cấn Dần, Giáp Mão, Ất Thìn, Tốn Tỵ. Sáu phân vị sau là Bính Ngọ, Đinh Mùi, Khôn Thân, Canh Dậu, Tân Tuất, Càn Hợi. Mỗi phân vị rộng 30 độ, chia làm năm long, mỗi long 6 độ. Lấy phân vị Nhâm Tý làm ví dụ:

LongNạp âmTính chất khíKhi dùng
Giáp TýKimCô (khí lạnh)Tránh
Bính TýThuỷVượngNên chọn
Mậu TýHoảSát diệu, không vongTránh
Canh TýThổTướngNên chọn
Nhâm TýMộcHư (khí thoái)Tránh

Các phân vị khác cũng chia theo cùng quy luật. Theo phép thường dùng, chỉ các long thuộc tuần Bính Tý và Canh Tý là vượng tướng, đáng chọn. Vòng này dùng để xét long mạch đi vào huyệt.

Tầng 13: 72 xuyên sơn long

Vòng xuyên sơn chia 360 độ thành 72 ô, mỗi ô 5 độ, tức mỗi sơn ba ô. Mỗi địa chi mang năm long cùng chi, ví dụ Tý có Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý. Mười hai địa chi cho ra 60 long.

Mười hai ô còn lại nằm ở chính giữa tám can và bốn duy, không mang can chi, gọi là không vong. Cộng lại là 60 với 12, thành 72. Vòng này dùng để xét long mạch xuyên qua núi, tức đoạn long nhập thủ trước khi đến huyệt. Cũng như thấu địa, các long tuần Bính Tý và Canh Tý được xem là vượng tướng.

Tầng 14: 120 phân kim chính châm

Phân kim chia mỗi sơn của Địa bàn thành năm phần, mỗi phần 3 độ. 24 sơn nhân 5 được 120 phân kim. Mỗi phân kim mang tên can chi và cũng được phân vượng tướng, cô hư như hai vòng trên. Phân kim dùng khi cần lập hướng thật tinh, nhất là đặt hướng mộ phần hay cửa chính.

Các tầng phục vụ Bát Trạch

Tầng 12: Đại du niên bát biến

Tầng này giúp an tám du niên của Bát Trạch vào tám cung. Trước hết đặt Phục vị tại cung của quẻ mệnh, hoặc quẻ toạ của nhà. Sau đó an lần lượt bảy du niên còn lại theo chiều kim đồng hồ.

Ví dụ với người mệnh Khảm, Phục vị ở chính Bắc. Đi theo chiều kim đồng hồ: Đông Bắc là Ngũ quỷ, Đông là Thiên y, Đông Nam là Sinh khí. Nam là Diên niên, Tây Nam là Tuyệt mệnh, Tây là Hoạ hại, Tây Bắc là Lục sát.

Thứ tự này không giống nhau cho mọi quẻ. Mỗi quẻ có một chuỗi riêng, gói trong bài ca Đại du niên. Bảng dưới ghi chuỗi du niên của từng quẻ, kể từ cung kế tiếp theo chiều kim đồng hồ.

QuẻBảy du niên theo chiều kim đồng hồ
CànLục sát, Thiên y, Ngũ quỷ, Hoạ hại, Tuyệt mệnh, Diên niên, Sinh khí
KhảmNgũ quỷ, Thiên y, Sinh khí, Diên niên, Tuyệt mệnh, Hoạ hại, Lục sát
CấnLục sát, Tuyệt mệnh, Hoạ hại, Sinh khí, Diên niên, Thiên y, Ngũ quỷ
ChấnDiên niên, Sinh khí, Hoạ hại, Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Thiên y, Lục sát
TốnThiên y, Ngũ quỷ, Lục sát, Hoạ hại, Sinh khí, Tuyệt mệnh, Diên niên
LyLục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh, Diên niên, Hoạ hại, Sinh khí, Thiên y
KhônThiên y, Diên niên, Tuyệt mệnh, Sinh khí, Hoạ hại, Ngũ quỷ, Lục sát
ĐoàiSinh khí, Hoạ hại, Diên niên, Tuyệt mệnh, Lục sát, Ngũ quỷ, Thiên y

Sinh khí, Thiên y, Diên niên (còn gọi là Phúc đức) và Phục vị là bốn cát du niên. Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát, Hoạ hại là bốn hung du niên.

Tầng 18: 24 sao Phúc đức

Tầng ngoài cùng ghi 24 sao của chòm Phúc đức theo sách Bát Trạch Minh Cảnh, ứng với 24 sơn của Địa bàn. Trong đó có 12 cát tinh và 12 hung tinh, xếp theo thứ tự sau:

Thứ tựSaoTính chấtThứ tựSaoTính chất
1Phúc đứcCát2Ôn hoàngHung
3Tấn tàiCát4Trường bệnhHung
5Tố tụngHung6Quan tướcCát
7Quan quýCát8Tự ảiHung
9Vượng trangCát10Hưng phúcCát
11Pháp trườngHung12Điên cuồngHung
13Khẩu thiệtHung14Vượng tàmCát
15Tấn điềnCát16Khốc khấpHung
17Cô quảHung18Vinh phúcCát
19Thiếu vongHung20Xương dâmHung
21Thân hônCát22Hoan lạcCát
23Tuyệt bạiHung24Vượng tàiCát

Cần lưu ý, vị trí thật của 24 sao trên các sơn tuỳ thuộc vào toạ hướng của nhà. Chúng không cố định như in trên la kinh. Nhiều mẫu in sẵn Phúc đức ở sơn Bính. Tầng này chủ yếu giúp ghi nhớ tên và thứ tự các sao, còn khi luận phải tính lại theo nhà. La kinh hai mặt xoay rất tiện cho việc này, vì tầng ngoài xoay độc lập với phần bên trong.

Tầng thiên văn, độ số và Tam hợp

Tầng 15: Nhị thập bát tú

Tầng này ghi 28 chòm sao, chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm bảy sao, ứng với Tứ tượng:

  • Phương Đông, Thanh Long: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.
  • Phương Bắc, Huyền Vũ: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.
  • Phương Tây, Bạch Hổ: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm.
  • Phương Nam, Chu Tước: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.

Các phép phong thuỷ dùng tinh tú lấy tầng này để tra độ số của từng tú. Nhị thập bát tú cũng là thành phần quen thuộc trong trạch nhật.

Tầng 16: Vòng độ số

Tầng này chia vòng tròn thành 360 độ. 0 độ là chính Bắc, 90 độ là chính Đông, 180 độ là chính Nam, 270 độ là chính Tây. Vòng độ số giúp ghi lại hướng chính xác, đối chiếu với bản vẽ và phần mềm.

Tầng 17: Trường sinh âm dương cục

Tầng này phục vụ phái Tam hợp, ghi vòng Trường sinh gồm 12 giai đoạn. Đó là Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Vòng này đi thuận với cục dương, đi nghịch với cục âm. Người dùng căn cứ vào đó để định cục và luận thuỷ pháp.

La kinh 22 tầng và 30 tầng khác gì?

La kinh 22 tầng giữ phần lớn các tầng của loại 18 tầng. Điểm khác là có thêm một số vòng như Bát sát và vòng 64 quẻ Dịch. Nhiều mẫu còn có vòng cửu tinh ứng với 24 sơn. Cửu tinh gồm Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật.

La kinh 30 tầng thì tách nhỏ hơn nữa, nhiều thông tin được trình bày thành hai vòng riêng. Một cách sắp xếp thường gặp như sau:

VòngNội dung
1Thiên trì
2Tiên thiên bát quái
3–4Hậu thiên bát quái, tám phương và số Lạc thư
5–6Tam nguyên long, âm dương và số dùng cho kiêm hướng Huyền Không
7–824 sơn chính châm và âm dương long
9Nạp giáp
10Kiếp sát
11Hoàng tuyền
12Trung châm Nhân bàn
13Phùng châm Thiên bàn
1460 thấu địa long
15–22Bát biến du niên, tức Bát trạch phối quái Hậu thiên
2372 xuyên sơn long
24120 phân kim
25Nhị thập bát tú
26Độ số 360°
27–28Trường sinh âm và trường sinh dương
29–3024 sao Phúc đức và cách khởi Phúc đức theo Bát Trạch Minh Cảnh

Nhìn chung, số tầng nhiều hơn không làm thay đổi nguyên lý. Các tầng chỉ được tách nhỏ hoặc bổ sung để tra cứu nhanh hơn.

Học la kinh 18 tầng theo thứ tự nào?

Với người mới, bạn không cần học thuộc cả 18 tầng ngay. Một lộ trình hợp lý gồm ba bước:

  1. Thuộc nhóm nền: thiên trì, hai vòng bát quái, Lạc thư, 24 sơn và vòng độ số. Tập đo hướng thật cho thành thạo.
  2. Học các tầng gắn với trường phái bạn theo. Người học Bát Trạch chú ý tầng du niên và Phúc đức. Người học Huyền Không chú ý tầng Tam nguyên long. Người học Tam hợp cần ba bàn, trường sinh, thấu địa, xuyên sơn và phân kim.
  3. Thực hành trên công trình thật, ghi chép và đối chiếu kết quả với sách, phần mềm.

Học theo cách này, mỗi tầng gắn với một việc cụ thể, nên nhớ lâu và dùng đúng.

Tài liệu và công cụ học la kinh

Mục quà tặng phong thuỷ có bản thiết kế la kinh 36 tầng và la kinh Lục Pháp khổ A1. Bạn có thể nhận miễn phí, in ra để đối chiếu khi học. Muốn học cách dùng la kinh theo từng trường phái, mời bạn xem các khoá học phong thuỷ của Thầy Vũ Giới Liên Hoa. Phần tính toán Tam hợp có thể kiểm tra nhanh bằng phần mềm phong thuỷ Tam hợp.

Phong Thuỷ Liên Hoa · Thầy Vũ Giới Liên Hoa · Zalo 0988 964 636 — La kinh 18 tầng: tên gọi và ý nghĩa từng tầng cho người mới.
💬 Bình luận 0

Bình luận Chưa có bình luận

Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận về bài viết này.

Bài viết khác

Bất động sản phong thuỷ · 2026-10-27Trục khí đô thị: điểm khởi, điểm kết và nhịp công trình dọc trục theo Hình Pháp

Trục khí đô thị không phải đại lộ thẳng tắp. Bài viết phân tích cách chọn điểm khởi, điểm kết, giữ Thiên tâm, tổ chức nhịp công trình dọc trục và các lỗi thường gặp.

Thầy & dịch vụ phong thuỷ · 2026-10-27Nhiệm vụ thiết kế nhà ở có phong thuỷ: chủ nhà nên soạn gì trước khi kiến trúc sư đặt bút

Một bản nhiệm vụ thiết kế rõ ràng giúp phong thuỷ đi vào bản vẽ ngay từ nét đầu. Bài viết gợi ý tám mục chủ nhà nên soạn và cách chuyển nó thành khung phong thuỷ.

Hình pháp Liên Hoa · 2026-10-27Thiết kế kiến trúc theo phong thuỷ và khí hậu nhiệt đới: đọc nắng, gió, mưa bằng âm dương

Phong thuỷ vốn là tri thức về gió và nước. Bài viết giúp kiến trúc sư nối kiến trúc nhiệt đới với phong thuỷ: xử lý nắng, gió, mưa, độ ẩm, bốn mặt đứng và vật liệu theo âm dương.

Zalo